Get Adobe Flash player

Đau khổ của người vô tội

Lm. Ngọc Huỳnh

Người vô tội đau khổ luôn luôn là một thực tại nhức nhối. Nhất là khi chính bản thân chúng ta lâm vào tình cảnh đó.

Có thể nói đến ba loại đau khổ:

1. ĐAU KHỔ - TRỪNG PHẠT, tức là những đau khổ xảy đến như là hậu quả của những việc không tốt mà chúng ta đã gây ra.

2. ĐAU KHỔ - THỬ THÁCH, tức là những đau khổ xảy đến như là một cơ hi để chúng ta chứng tỏ bản lãnh, lòng trung thành và các nhân đức khác, hoặc như là cơ hi để chúng ta trui rèn bản lãnh và các nhân đức khác.

3. ĐAU KHỔ - CỨU ĐỘ, tức là những đau khổ có giá trị cứu độ khi chúng được gắn kết vào với hy tế thập giá của Đức Giêsu Kitô, vì ơn cu độ và sự giải thoát nhân loại. Những hy sinh và đau khổ của cha mẹ dành cho con cái chẳng hạn, cũng có giá trị cứu độ hiểu theo một nghĩa, cho dù ngưi cha người mẹ đó không ý thức một cách rõ ràng về sự gắn kết với hy tế thập giá. Đơn giản là vì Đức Kitô đã đảm nhận nơi Ngài tất cả những hy sinh của mọi người thiện tâm trong nhân loại và làm cho những hy sinh của tất cả chúng ta có giá trị vĩnh cửu nhờ Ngài.

Khi phải đau khổ dù vô tội, chúng ta đang đi vào một cuộc thử thách, nhiều khi là rất lớn lao và nghiệt ngã.

Khi gắn kết những đau khổ của mình vào với hy tế thập giá của Đức Kitô, chúng ta đang làm cho những hy sinh và những đau khổ vô tội của mình có giá trị cứu độ nhờ Đức Kitô.

Ý nghĩa của chi tiết

Ông Phêrô khoác áo vào và nhảy xuống biển

Lm. Ngọc Huỳnh

“Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến nói với ông Phêrô: "Chúa đó! " Vừa nghe nói "Chúa đó!", ông Simôn Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển” (Ga 21,7).

Ông Phêrô không hiểu nguyên nhân của sự thành công của mẻ lưới. Nhưng vừa khi nghe người môn đệ kia nói “Chúa đó!”, thì ông hiểu ngay, và lập tức thay đổi thái độ sống và cách thức nhìn nhận thực tại.

Tác giả Ga đã dùng những hình ảnh biểu tượng rất đậm đặc về ý nghĩa để diễn tả sự thay đổi này của ông Phêrô: ông khoác áo vào và nhảy xuống biển.

“Simon Phêrô khoác áo vào”. Hạn từ chìa khoá để hiểu chi tiết này là động từ “διεζώσατο” (Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch là "quấn", Nhóm CGKPV dịch là “khoác”).

Trong Ga, cách diễn tả này chỉ xuất hiện trong trình thuật Tiệc Ly, khi Đức Giêsu khoác vào mình chiếc khăn thắt lưng, dấu hiệu của thân phận tôi tớ, và rửa chân cho các môn đệ, có ý diễn tả thái độ phục vụ cho đến tận cùng trong cái chết của Người (13,4.5).

Vậy, trước đó, ông Phêrô ở trần, tức là ông không đón nhận thân phận tôi tớ và cái chết thập giá của Đức Giêsu như là cách diễn tả tuyệt đối của tình yêu, càng không lấy đó làm quy luật hành động cho mình.

Nhưng bây giờ ông đã hiểu. Ông làm một hành động cho thấy: như Đức Giêsu đã khoác vào mình chiếc khăn thắt lưng tôi tớ để phục vụ đến tận cùng, chính ông chọn sống đúng thái độ phục vụ tận cùng trong yêu thương như Đức Giêsu vậy. Như Đức Giêsu, ông sẵn sàng hy sinh mạng sống mình.

Và để diễn tả thái độ và chọn lựa sống đó, ông nhảy xuống biển.

Suy niệm về

Một kinh nghiệm của Thánh Giuse

trong biến cố Đức Giêsu ở lại Đền Thờ

Lm. Ngọc Huỳnh

Một lần, khi 12 tuổi, Đức Giêsu ở lại trong Đền Thờ sau những ngày cùng Đức Mẹ và Thánh Giuse trẩy hội Giêrusalem mừng Lễ Vượt Qua. Cùng với Đức Mẹ, Thánh Giuse đã vất vả ba ngày tìm con.

“Khi thấy con (đang ngồi đối đáp giữa các bậc thầy trong Đền Thờ), hai ông bà sửng sốt” (Lc 2, 48).

Sự ngạc nhiên của Đức Mẹ và thánh Giuse ở đây là phản ứng của những con người đột ngột phải đối diện với một sự kiện vượt quá sự chờ đợi và khả năng hiểu biết của họ.

Quả thực, tư cách là Con Thiên Chúa của Đức Giêsu vẫn là một mầu nhiệm ngay cả đối với cha mẹ Người, bất chấp lời loan báo của thiên sứ và lời quả quyết của các ngôn sứ, bất chấp cả sự kiện mang thai đồng trinh của Đức Maria.

Thực tại vô phương đạt thấu của mầu nhiệm Đức Giêsu luôn luôn và chắc chắn vượt quá sự chờ đợi và sự hiểu thấu của lòng tin, cho dù là lòng tin sâu xa và mạnh mẽ nhất.

Tác giả Tin Mừng còn nói rõ rằng Đức Maria và Thánh Giuse không hiểu lời Đức Giêsu vừa nói với hai ông bà (c.50).

Điều quan trọng là: một cách đau đớn, “tăm tối” và không thể quên được, Thánh Giuse và Đức Maria phải trải qua một kinh nghiệm đặc biệt để hiểu rằng Đức Giêsu thuộc về một thẩm quyền cao cả và linh thiêng nhất, rằng mối tương quan độc nhất và siêu việt của Người với Thiên Chúa sẽ đưa Người tới chỗ có những hành động vuợt quá sự chờ đợi, sự nghĩ tưởng và sự hiểu thấu của các ngài, và thậm chí có thể tới chỗ chia cắt đau thương và bi thảm với các ngài.

Và Thánh Giuse đã sống trọn vẹn cuộc đời công chính của mình trong ý thức sâu xa đó về mầu nhiệm của Đức Giêsu.

Nguyện xin Cha Thánh phù trợ, để chúng con không bao giờ “nhốt” Đức Giêsu trong những tư tưởng, những chờ đợi và những vấn đề riêng của chúng con...

Đức Maria Sống Tâm Tình Mùa Vọng

Lm. Anmai, DCCT

Một ngày đẹp trời kia, ở cái vườn nọ có cái tên là Êđen có hai vợ chồng đang sống trong an bình hạnh phúc bỗng dưng hóa trần truồng ...

Không gian, thời gian, con người và sự kiện đó nhiều người biết đến qua câu chuyện ghi lại trong sách Sáng Thế.

Thiên Chúa là vị Thiên Chúa tuyệt hảo. Thiên Chúa tạo dựng trời đất, muôn vật muôn loài và Ngài đã tạo dựng nên con người giống hình ảnh của Ngài. Hơn thế nữa, nét đẹp của tấm lòng Thiên Chúa đó là :

Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,

ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,

cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,

đặt muôn loài muôn sự dưới chân:

Nào chiên bò đủ loại,

nào thú vật ngoài đồng,

nào chim trời cá biển,

mọi loài ngang dọc khắp trùng dương. (Tv 8, 6-9)

Nhưng, hỡi ôi, hai ông bà nguyên tổ đã không đủ tỉnh thức đủ để nhận ra tình thương bao la của Thiên Chúa. Hai ông bà đã khước từ, đã đánh đổ tình thương đó. Và, ngay lúc ông bà phạm tội, tình yêu Thiên Chúa vẫn dẫy tràn trên cuộc đời của hai ông bà. Ta bắt gặp tình thương đó ở sách Sáng Thế, chương 3, 14.15 : Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn: "Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."

Dòng giống được Thiên Chúa tuyển chọn, yêu thương đó sẽ là dân riêng của Ngài và sẽ chiến thắng con rắn dữ xưa, chiến thắng kẻ thù mưu ma chước quỷ xưa trong vườn Địa Đàng. Dòng giống Thiên Chúa tuyển chọn ấy có tên là Israel.

Qua dòng chảy lịch sử cứu độ, ta thấy Israel là một dân sống bằng hy vọng bởi vì họ đã ra đời, đã dựng nước, đã sống dựa trên một lời hứa của Thiên Chúa làm nền tảng. Lời hứa mà Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Abraham được nhiều lần lặp lại bằng cách này hay cách khác với các con cháu của ông : “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân tộc hùng mạnh, sẽ ban cho ngươi một miền đất phì nhiêu làm quê hương, Ta sẽ chúc phúc cho ngươi và con cháu ngươi, và qua ngươi, Ta chúc phúc cho các dân tộc khác. Ta sẽ là Chúa của các ngươi và các ngươi sẽ là dân riêng của Ta”.

Lời hứa mà Thiên Chúa hứa với Abraham đã được long trọng lặp lại nhiều thế kỷ sau với vua Đavít qua miệng Ngôn sứ Nathan. Ngôn sứ nói rằng Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện từ dòng dõi nhà vua một người con; người con này sẽ là vị Cứu Tinh, Người sẽ tái lập vương quốc Đavít và sẽ trị vì mãi mãi.

Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, lịch sử của dân tộc Israel cũng vậy. Ta thấy có những thời Israel cực thịnh nhưng cũng có những lúc cực suy và có những lúc rơi vào hoàn cảnh bi đát gần như tuyệt vọng. Trong nỗi thất vọng nhưng có một niềm hy vọng vẫn lóe lên trong cuộc đời của họ. Niềm hy vọng của Israel như là sợi chỉ đỏ chạy xuyên suốt qua dòng lịch sử. Họ luôn luôn quay về với Lời Hứa của Chúa để tìm lẽ sống cho mình, nhất là những khi cùng đường tuyệt vọng. Và Chúa luôn luôn tỏ ra rất trung thành với lời hứa, có điều là lắm khi đường lối của Người theo rất lạ lùng, khó hiểu.

Sống dưới ách nô lệ của Ai Cập, dân Do Thái vẫn ngóng trông, vẫn mong đợi ngày giải phóng suốt mấy trăm năm. Thế rồi Thiên Chúa đã sai Môsê đến làm vị cứu tinh của họ.

Vừa bước chân ra khỏi Ai Cập, dân Do Thái lại ngóng chờ được vào chỗ định cư, nơi có sữa và mật chảy thành suối như lời hứa.

Niềm hy vọng của dân Do Thái không dừng lại ở đất hứa. Khi vừa đặt chân đến đất hứa rồi, họ vẫn chưa hết chờ mong vì vẫn chưa được như lòng sở nguyện. Sau những thế kỷ lập quốc khá hùng mạnh, đến lúc họ lại bị nước mất nhà tan và bị bắt đi lưu đầy ở Babylon, năm 586 trước công nguyên. Nơi chốn lưu đày họ lại mong lại chờ, và Chúa  đã sai vua Kyrô nuớc Ba Tư đưa họ về quê cha đất tổ và tái thiết lại Đền Thờ. Đền thờ cuối cùng bị phá huỷ là vào năm 70 thời tướng Lamã Titus. Dân Israel lại rơi vào ách thống trị của đế quốc Rôma. Và họ lại chờ mong một vị cứu tinh mới.

Nhìn lại niềm hy vọng của Do Thái, ta thấy niềm hy vọng của họ chỉ gói ghém, chỉ hạn hẹp, chỉ được giới hạn ở cái nhìn của phàm tục, của vật chất, của hư danh dẫu rằng quá nhiều lần cũng như quá nhiều ngôn sứ nhiều lần dạy họ phải mở rộng cái nhìn vật chất hẹp hòi đó. Các ngôn sứ đã hướng họ nhìn và trông mong Đấng Cứu Độ trần gian chứ không phải đấng đến để làm cho họ được vinh quang với cái vẻ bên ngoài.

Thiên Chúa cũng đã thử thách dân Do Thái nhiều lần và nhiều cách. Có lúc niềm tin vào Đấng Cứu Độ trần gian bừng lên mạnh mẽ nhưng rồi cũng có những người chán nản thất tín bất trung. Nhiều đại họa đến với dân và làm cho dân thoái chí nản lòng.

Trong số những người Do Thái chờ đợi trong niềm tin, hy vọng trong niềm cậy trông đó nổi lên khuôn mặt hết sức dễ thương đó chính là Đức Trinh Nữ Maria.

Maria (Miryam), một tên rất phổ biến, giống như tên Mai, Lan, Cúc, Trúc trong giới phụ nữ Việt Nam ta. Giả như Maria sinh ra ở Việt Nam, Maria sẽ mang một cái tên hết sức gần gũi Trần Thị ..., Đặng Thị ... Đơn giản là như thế. Về quê quán, Đức Maria là người làng Nazareth (Lc 1, 26), một làng rất tầm thường như về sau ông Nathanael một môn đệ Đức Giêsu đã nhận xét: “Từ Nazareth làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1, 46).

Mẹ đã đến thế gian, Mẹ đã đi vào trần gian, Mẹ được sinh hạ bởi tình yêu, bởi huyết nhục của GioaKim và Anna.

Cũng như bao nhiêu người nữ khác nói riêng và như bao nhiêu người Do Thái, Mẹ Maria cũng trông chờ Đấng Cứu Độ trần gian đến. Giản đơn, qua lịch sử, ta thấy Đức Trinh Nữ Maria là ai: là một thiếu nữ Do thái, hết lòng mong đợi ơn cứu chuộc dân tộc của mình. Ngày ngày, Maria lên Đền Thờ cầu nguyện và nghe Lời Chúa. Maria đã sống niềm hy vọng vào Đấng Cứu Độ trần gian từ độ còn xuân. Maria luôn luôn nghiền ngẫm Thánh Kinh để rồi Maria nhớ lại lời Chúa đã dùng ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavít xưa.

Và rồi, cũng bỗng đến ngày kia, giờ kia, không phải là cái giờ đại họa đến cho con người khi ông bà nguyên tổ phạm tội mà đến cái giờ con người được hưởng hồng phúc, được hưởng ơn cứu độ. Giờ ấy chính là giờ sứ thần truyền tin cho Maria.

Hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn không hiểu, hoàn toàn ngạc nhiên. Chẳng bao giờ Maria nghĩ đến lời ngôn sứ ngày xưa lại rơi vào cuộc đời của mình. Chuyện “không thể” được đầu tiên là làm sao mình có thể sinh con được vì “không biết đến chuyện vợ chồng” ?

Thế nhưng, bình tĩnh để nghe sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Maria đã khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

Niềm hy vọng của Maria được nung nấu, được nuôi dưỡng trong tâm tình tỉnh thức, chờ đợi và đặc biệt nhất đó là hoàn toàn khiêm hạ để đón Ơn Cứu Độ trần gian đến trong đời của Mẹ. Nếu như Mẹ không tỉnh thức, không suy niệm lời Chúa, không hoàn toàn bỏ ngỏ đời mình cho Thiên Chúa, cho Thánh Ý Thiên Chúa thì Đấng Cứu Độ trần gian sẽ không đến với Mẹ.

Với tâm tình đó, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành thánh mẫu của Thiên Chúa.

Ta bắt gặp Đức Maria đã sống hết sức mạnh mẽ niềm hy vọng chờ mong ơn cứu độ của dân tộc mình. Hơn thế nữa, Mẹ đã trở thành dụng cụ đặc biệt Chúa dùng để thực hiện ý định cứu độ vì Mẹ là một tâm hồn nghèo khó, khiêm nhường, tuyệt đối tin tưởng và gắn bó trọn vẹn vào Thiên Chúa.

Sống Mùa Vọng, Giáo Hội đặt chúng ta lại trong thái độ khao khát chờ mong Chúa đến cứu độ chúng ta.

Ta chờ ai, mong ai, đón ai đến trong cuộc đời của ta ? 

Bài học của dân Do Thái ngày xưa dẫu là xưa nhưng vẫn là bài học còn rất mới và rất tốt cho mỗi người chúng ta. Đôi khi, ta cũng lầm đường lạc lối là hy vọng, chờ mong, đạt được những cái gì hạn hẹp trong cái đợi, cái mong của vật chất, của hạ giới chứ không về thượng giới, về Ơn Cứu Độ.

Nếu chúng ta cứ lầm lũi chờ đợi vật chất, danh vọng, quyền lực, lợi lộc trần gian ta sẽ đánh mất cái cảm thức của chờ đợi Đấng Cứu Thế. Và với tâm tình đó, ta sẽ không khiêm hạ đủ như Mẹ Maria để đón Đấng Cứu Độ trần gian vào đời mình như bao nhiêu người đã đánh mất Ơn Cứu Độ.

Ta hãy thức tỉnh và đặc biệt hơn cả là hãy noi gương Đức Maria: ý thức mình là kẻ nghèo khó khiêm nhu, sống phó thác vào Chúa. Và cũng cần lắm là noi gương Mẹ sẵn sàng để cho Chúa sử dụng vào công cuộc cứu độ của Người đang thực hiện cho bản thân chúng ta và cho toàn thế giới.

Ngõ cụt

Lm. Anmai, DCCT

Trưa hôm nay, giờ cơm cha con lại nói chuyện với nhau về những hoàn cảnh bi thương của cuộc đời. Có những người rơi vào hoàn cảnh ngõ cụt và không lối thoát nên họ đã tự giải quyết cuộc đời cho nhẹ lòng.

Đang nói chuyện, cha già cứ ngỡ rằng tôi lên án những người như vậy nên ngài cắt luôn lời tôi muốn chia sẻ.

- Mình đâu có biết được hoàn cảnh của những người đó. Đôi khi họ không tìm được sự cảm thông, sự chia sẻ của người khác nên họ đi đến đường cùng ...

Cha già nói như thế và chúng tôi hiểu được tâm tình của cha già trước hoàn cảnh bi thương như thế.

Cha đồng bàn nói luôn :

- Rơi vào những hoàn cảnh bi đát đó, cần có những người cảm thông và hiểu để đón nhận nhau chứ không thì cũng kẹt. Có những người kém may mắn là họ đã quá cô đơn nên tự giải quyết cuộc đời ...

Đúng như vậy ! Nhiều khi trong cuộc sống, có những hoàn cảnh đưa đẩy con người ta đi đến bước đường cùng, đến ngõ cụt và không còn lối thoát. Chẳng ai muốn gieo mình xuống dòng sông đang chảy xiết hay lao mình vào chiếc xe tải đang chạy ngoài đường để kết liễu đời mình cả. Nhưng, trong cái thân phận mỏng giòn và yếu đuối của con người họ đã bế tắc.

Những người ngoài, những người chứng kiến, những người hay tin thì có những lối nhìn, những phản ứng riêng của mỗi người. Dĩ nhiên bởi lẽ ai cũng có tự do để nhìn nhận sự việc, nhìn nhận biến cố nhưng chỉ có đương sự mới hiểu rõ mình hơn ai hết. Những người thân thương, ruột thịt đi chăng nữa đôi khi cũng chẳng hiểu vì sao người thân của mình đã tự giải quyết đời mình.

Thật ra chẳng ai muốn mình phải rơi vào cái ngõ cụt mà không có lối ra như thế bao giờ. Bởi lẽ hết sức bình thường thì ai cũng muốn con đường phía trước của mình là con đường thông thoáng, rộng lối đi.

Lần nọ, khi nghe em trình bày về hoàn cảnh em gặp phải, trong tâm tình sẻ chia, tôi đã phân tích cho em thấy phải trái, thiệt hơn. Em nghe xong và em đưa đáp án ngay đó là lý trí của em mách bảo như thế nhưng tình cảm thì không được. Phân tích thêm một tí để em rõ. Em đã rõ nhưng em cũng tiếp tục với câu trả lời là em không biết phải xử lý làm sao tình huống của em. Em muốn thoát ra nhưng em không tìm được đường nào khác nên đành phải sống như vậy.

Cũng chỉ biết cảm thông với em tình cảnh mà em gặp phải chứ không biết nói gì hơn vì tôi không phải là em và tôi cũng không ở trong hoàn cảnh trớ trêu ấy.

Cũng thế, lần kia, một cô bộc bạch : "Cha ơi ! Nếu bảo con đi lại những bước từ đầu thì con không dám đi đâu bởi vì hiện giờ chân con như dính vào bùn vậy. Chân dính bùn rồi nên nhấc lên cũng không được mà đi tiếp cũng không xong ... Giờ cũng khổ lắm nhưng không biết làm sao ... xin cha cầu nguyện cho con ...". Chuyện là ngày xưa cô cũng như một số người khác thấy bất động sản cũng có thể đầu tư được nhưng khi đầu tư vào thì chân cô như dính vào bùn bởi lẽ bất động sản bây giờ có chăng là "bất động" và "mên sản". Vì bế tắc nên cô chia sẻ thật lòng rằng giờ đây bảo đi lại những bước đó cô chẳng bao giờ dại. Mà thật ! Chẳng ai thấy nó bế tắc mà lại lao đầu vào, chỉ khi lao đầu vào mới biết bế tắc là chi.

Và, chị của một chị quen biết cũng rơi vào cái tình thế "bất động" và "mên sản" như vậy. Chị thấy mảnh đất đó có tiềm năng và mua vào. Nào ngờ phải tốn quá nhiều tiền của để nó trở thành đất thổ cư. Tưởng cũng có thể bán được giá để trả nợ nhưng mảnh đất ấy lại nằm dưới hai đường điện cao thế. Giờ thì chỉ ngồi đó chờ nhận số tiền đền bù quá khiêm tốn so với những gì mà chị đã đầu tư.

Có thể ta đứng ngoài ta nhìn vậy vậy thôi chứ ta không thể nào hiểu được cám cảnh của những người đang rơi vào ngõ cụt như vậy. Ta cũng không nên trách là tại thế này thế kia nó mới ra như thế nhưng ta cũng phần nào cảm thông xu hướng của kinh tế, của cạnh tranh nên đã đầu tư như vậy nhưng không ngờ nó lại ra như thế.

Cuộc đời ta, cũng đôi lần đôi lúc ta cũng rơi vào ngõ cụt để rồi ta cần mặc lấy tâm tình cảm thông chia sẻ hơn là lên án bởi lẽ giản đơn là chẳng ai nghĩ mình lại đâm đầu vào ngõ cụt để rơi vào bế tắc bao giờ cả. Không ai muốn mình đứng trên bờ vực của phá sản và bế tắc trong cuộc sống bao giờ nhưng chẳng may thì đành phải chịu. Không ai có thể nói trước được cuộc đời của mình cả trước khi nhắm mắt xuôi tay.

Biết đâu được đến một lúc nào đó niềm tin của ta cũng đi vào ngõ cụt và ta cũng sẽ hành xử như bao nhiêu người mất đức tin.

Biết đâu được đến một lúc nào đó ta không còn yêu thương gia đình, mái ấm, vợ con để ta hành xử như những người không còn tình nghĩa vợ chồng con cái thân nghĩa trong gia đình.

Biết đâu được đến một lúc nào đó cuộc đời đưa đẩy ta đến độ ta không tìm được lối thoát mà ta lại hành xử như những người không lối thoái hành xử mà ta đã từng lên án, quở trách họ.

Như người nào đó đã tự đi tìm đến cái chết khi rơi vào bế tắc ta cũng nên cảm thông hơn là dèm pha lên án.

Như người nào đó đang lụy vì tình không để lý trí điều khiển ta cũng cầu mong cho họ tìm được lối rẽ.

Như người nào đó đứng trên bờ vực của phá sản, của bế tắc trong cuộc sống, nên chăng ta thêm một lời cầu nguyện cũng như cảm thông.

Tất cả những tâm tình cảm thông, cầu nguyện, sẻ chia đó chính là tâm tình đậm chất người hơn bao giờ hết. Tâm tình đồng cảm, sẻ chia, liên đới vẫn là tâm tình bác ái yêu thương mà Thầy Chí Thánh Giêsu luôn luôn mời gọi người kitô hữu phải sống và nêu gương.


Lm. Anmai, DCCT

Đời là bể khổ ! Đức Phật nói như thế về cuộc đời.

Nhìn về cuộc đời, đúng thật là ai cũng có những nỗi khổ đau của riêng mình, của tập thể và thật sự khó có thể nói trước, khó có thể nói hay cũng chẳng có thể biết được khi nào nỗi khổ đến trong cuộc đời. Chỉ giật mình nhận ra và thấy rằng cuộc đời của mình, người thân của mình và đồng loại của mình sao khổ thế !

Trong một đất nước mà khí hậu không được ôn hòa cho lắm thì con người phải nhận hậu quả nhất định nào đó. Ở cái dải đất hình chữ S thân yêu này thì những ai ở vào những vùng có thời tiết khắc nghiệt ắt mới hiểu được phần nào nỗi đau khi cơn bão chưa đi qua và cơn lũ đang gần đến.

Những ngày này, bão đang dần đi vào dĩ vãng nhưng những người dân ở miền Trung đang đối diện với những cơn lũ do hậu quả của bão. Hậu quả bão lũ đã làm cho hàng ngàn gia đình rơi vào cảnh khốn khó. Bao nhiêu năm trời chắt chiu một nắng hai sương và tằn tiện cho cuộc sống nhưng khi đối diện với bão dữ thì tất cả những lao nhọc tan biến cùng theo bão.

Những người ở xa vùng tâm bão hay ở những nơi mà bão chẳng bao giờ ghé được chắc có lẽ chẳng cảm được những nỗi đau, những nỗi mất mát về cả vật chất lẫn con người sau bão. Vài lần có việc để đi ra miền Trung rơi vào những ngày bão nhỏ hay chỉ với những cơn áp thấp nhiệt đới thôi tôi cảm được một chút gì đó của thời tiết khắc nghiệt. Thật ra, nó chẳng thấm tháp gì với những cơn siêu bão cứ ập đến với người nghèo. Tận mắt nhìn những người dân Quảng Trị trong trời giá rét phải mặc áo mưa để đi làm lúa thì phải biết rằng cái lạnh, cái buốt thấm vào xương thịt của họ là gì. Thế nhưng không còn việc gì khác ngoài cái việc phải bán lưng cho trời và bán mặt cho đất để đắp đổi cuộc sống qua ngày.

Ta chỉ nhìn thấy khổ đau của họ khi ta đi ngang qua được gặp họ trong hoàn cảnh trời rét mướt như thế mà phải cấy cày. Và khi nhìn thấy như thế ta chỉ cảm một chút gì đó chứ ta không rơi vào cảnh như thế nên ta không thể nào hiểu được nỗi đau mà ngày này tháng nọ và năm tới năm kia họ phải gánh chịu.

Hay trong những ngày này, cảnh tan thương trời đất sau bão ta cũng chỉ nhìn thấy qua hình ảnh hay có khi ta nhìn thấy tận mắt nhưng ta không thể nào thấu hiểu được nỗi đau như đang ôm chầm lấy họ. Nỗi đau của họ đang khốn cùng sau mưa lũ.

Có những đám táng phải dầm mình trong mưa lũ để đưa người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Có những gia đình những đứa trẻ phải cám cảnh mồ côi cha lẫn mẹ khi tuổi còn chưa khôn phải nương nhờ vào bà nội hay bà ngoại.

Có đứa trẻ mồ côi cha do cơn bão cách đây gần chục năm trước, mẹ phải đi làm xa và em ở nhà với ngoại. Cơn bão đến, em tìm cách trú ẩn dưới "hầm trú" đơn sơ xây bằng gạch với tôn xi măng và phên bằng tre. Trong "căn hầm" đó là gói mì và gọn đèn cầy gọi là tránh bão ...

Và vừa mới đây, có gia đình ra đi trên chuyến bay định mệnh ... nỗi đau không thể nào bù đắp được cho những người thân còn ở lại.

Cũng khá lâu không có dịp nói chuyện với đứa cháu ở xa. Trước đây thì chú cháu thi thoảng cũng hỏi thăm nhau về cuộc sống. Sáng nay, trong điện thoại, giọng của cháu cứ sụt sùi.

Trong nghẹn ngào nỗi đau, cháu nói rằng vì gia đình nhà giáo, sau khi qua bên kia thì cháu nỗ lực để học. Vì ham học và gắng học đến độ đôi khi không còn nhớ đến giờ ăn giấc ngủ. Đến một ngày kia bị đau đầu, cháu đi khám bác sĩ gia đình, họ không tìn ra bệnh và chuyển cháu vào viện. Tin dữ đến với bản thân cháu và gia đình là cháu đã bị ung thư não. Cách đây hai tuần, cháu mê sản 3 ngày không biết gì cả. Sau khi tỉnh dậy, bác sĩ tập dần tập dần để khơi lại trí nhớ cho cháu. Giờ đây mạng sống của cháu đang ở độ căng thẳng. Cháu nói bác sĩ cho biết là mổ cũng không giải quyết được gì nhưng không mổ cũng không được. Trong tiếng khóc, cháu nói cháu sẽ ra đi trước chú ...

Đứng trước cảnh đau như thế, chỉ nhanh trí tìm cách nói chuyện bâng quơ cuộc sống để cháu qua đi cơn đau đang âm ỉ trong đầu của cháu cũng như để cháu qua đi những suy nghĩ quá đau của cuộc đời.

Mới vừa bước qua tuổi 20, tuổi đẹp nhất của cuộc đời. Với cơn đau nghiệt ngã như vậy, cháu phải dừng lại chương trình y khoa mà vài năm nữa cháu sẽ ra trường làm bác sĩ. Tất cả dừng lại bởi chứng bệnh khổ đau mà cháu phải chịu.

Nghe lời tâm sự của cháu, biết được chứng bệnh cũng như cơn đau mà cháu đang mang trong mình. Dù có nghe và thậm chí nghe cả tiếng nấc nghẹn ngào đi chăng nữa nhưng làm sao tôi có thể hiểu và cảm được nỗi đau và cú sốc mà cháu và gia đình đang gánh chịu. Cũng chỉ biết sẻ chia với cháu đôi lời và hẹn dịp khác lại chia sẻ.

Nghe nhưng làm sao thấu và làm sao có đủ sức để gượng dậy với cuộc sống như hoàn cảnh của cháu được. Nghe nhưng đâu có hiểu được ngày sống của mình cứ cuốn dần cuốn dần không biết được bao lâu.

Quả thật là đau khổ đến với mỗi người, mỗi gia đình mỗi vẻ mỗi cách chẳng ai giống ai. Có khi ở một đất nước gọi là văn minh tiến bộ đó nhưng người ta vẫn bất lực trước những căn bệnh hiểm nghèo. Có khi ở trong một gia đình có thể là giàu sang phú quý đó nhưng khổ đau nó vẫn cứ đến bằng cách này hay cách khác qua mọi nẻo đường mà không ai ngờ đến. Như có một gia đình vừa ky cóp sắm chiếc xe tìm kế sinh nhai lại bị bão lũ cuốn đi và đang chịu cảnh tù túng. Có khi là đang yên ổn trong căn nhà mà bấy lâu chắt chiu xây được nay lại tan tành sau cơn bão lũ ...

Mỗi người, mỗi gia đình và có thể cả một tập thể đang có những nỗi đau của riêng mình, của gia đình đó.

Chỉ biết cầu xin cho mỗi người có đủ sức để vượt qua những nỗi đau mà mỗi người đang gặp phải. Và, cũng nguyện xin những ai có khả năng cũng như điều kiện có thể sẻ chia cách này cách khác cho anh chị em đồng loại của mình nhẹ đi phần khổ đau mà họ đang mang bởi lẽ khi nhìn người khác đau khổ thì làm sao lòng mình có thể an được.       

Toà Thánh vừa phổ biến Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2013 (năm nay sẽ được cử hành vào ngày 20/10) của Đức Thánh Cha Phanxicô, trong đó ngài kêu gọi mọi thành phần trong Giáo Hội hãy can đảm loan truyền Phúc Âm. Dấn thân loan truyền Phúc Âm là một dấu chỉ của Kitô hữu trường thành, bằng không nếu khép kín nơi chính mình sẽ trở nên những Kitô hữu bệnh hoạn. Đức Thánh Cha đặc biệt chỉ ra những khó khăn cho công cuộc truyền giáo không chỉ đến bên ngoài Giáo Hội, nhưng đặc biết đến từ bên trong, nhất là thiếu nhiệt huyết, sự can đảm, niềm vui và niềm hy vọng của mỗi Kitô hữu. Dưới đây là toàn văn sứ điệp:

Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2013

Anh Chị Em thân mến,

Ngày Thế giới Truyền giáo năm nay cũng là ngày chúng ta bế mạc Năm Đức Tin. Đây là một cơ hội quan trọng để chúng ta tăng cường tình nghĩa thiết với Chúa và cuộc hành trình can đảm rao giảng Tin Mừng của Hội Thánh. Với cái nhìn này, tôi muốn gợi ý với anh chị em một vài suy tư sau đây.

1. Đức tin là hồng ân của Chúa, nó mở lòng chúng ta ra để biết và yêu mến Chúa. Người muốn quan hệ với chúng ta và cho chúng ta tham dự vào sự sống của Người để làm cho đời sống chúng ta có ý nghĩa hơn và tốt đẹp hơn. Thiên Chúa yêu thương chúng ta! Tuy nhiên đức tin cần được đón nhận, nghĩa là nó cần mỗi người chúng ta đáp lại và can đảm phó thác mình cho Thiên Chúa, sống tình yêu của Người và cảm tạ lòng thương xót vô biên của Người. Nó là một ân huệ không chỉ dành riêng cho một ít người, nhưng được trao ban một cách hào phóng. Mọi người phải có thể trải nghiệm niềm vui được Thiên Chúa yêu thương, niềm vui được ơn cứu độ! Nó là một ân huệ mà không ai được giữ cho riêng mình, nhưng phải được chia sẻ. Nếu chúng ta chỉ muốn giữ lấy nó cho riêng mình, chúng ta sẽ trở thành những Kitô hữu bị cô lập, khô cằn và ốm yếu. Rao giảng Tin Mừng là phần cơ bản của các môn đệ Đức Kitô và là một sự dấn thân liên tục giúp sinh động hoá đời sống của Hội Thánh. “Mở rộng truyền giáo là một dấu chỉ rõ ràng sự trưởng thành của một cộng đoàn Hội Thánh” (Bênêđictô XVI, Verbum Domini, 95). Mỗi cộng đoàn “trưởng thành” khi cộng đoàn ấy tuyên xưng đức tin, hân hoan cử hành đức tin trong phụng vụ, sống bác ái, không ngừng rao giảng Lời Chúa, để cho các thành viên của mình đem Lời Chúa đến các “vùng ngoại vi”, đặc biệt đến với những người chưa có cơ hội để biết Đức Kitô. Người ta có thể đo lường được sức mạnh của đức tin chúng ta, ở bình diện cá nhân và cộng đoàn, qua khả năng thông truyền đức tin cho người khác, quảng bá và sống đức tin trong đức ái, làm chứng đức tin cho những người chúng ta gặp gỡ và chia sẻ đường đời với chúng ta.

2. Kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc Công đồng Vaticanô II, Năm Đức Tin thúc đẩy toàn thể Hội Thánh hướng tới một ý thức mới về sự hiện diện của mình trong thế giới hôm nay và sứ mạng của mình giữa các dân tộc và các quốc gia. Truyền giáo không chỉ liên quan đến các lãnh thổ địa lý, nhưng liên quan tới các dân tộc, các nền văn hoá và các cá nhân, bởi vì các “ranh giới” của đức tin không chỉ đi qua các địa điểm và các truyền thống nhân loại, nhưng còn xuyên qua trái tim của từng người, nam cũng như nữ. Công đồng Vaticanô II đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ truyền giáo là thế nào: mở rộng các ranh giới của đức tin, và là nhiệm vụ của mọi người đã rửa tội và của mọi cộng đoàn Kitô, bởi vì “dân Thiên Chúa sống trong các cộng đoàn, đặc biệt trong các giáo phận và giáo xứ, và một cách nào đó trở nên hữu hình ở đó. Chính các cộng đoàn này có nhiệm vụ làm chứng về Đức Kitô trước các dân tộc” (Ad gentes, 37). Vì vậy mỗi cộng đoàn được chất vấn và được mời gọi lấy làm của mình sứ mạng đã được Chúa Giêsu uỷ thác cho các Tông đồ, là trở thành “những chứng nhân của Người tại Giêrusalem, trên khắp xứ Giuđêa và Samaria và tới tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Đây không phải là một khía cạnh thứ yếu, nhưng là khía cạnh cơ bản của đời sống Kitô hữu: tất cả chúng ta được mời gọi cùng với anh chị em mình đi trên các nẻo đường của thế giới để rao giảng và làm chứng cho đức tin của chúng ta vào Đức Kitô và trở nên những sứ giả Tin Mừng của Người. Tôi mời gọi tất cả các giám mục, các linh mục, các Hội đồng Linh mục và Hội đồng Mục vụ, mọi người và mọi nhóm có trách nhiệm trong Hội Thánh hãy dành một vị trí nổi bật cho chiều kích truyền giáo này trong các chương trình đào luyện và mục vụ, đồng thời hiểu rằng sự dấn thân tông đồ của họ chỉ hoàn thành nếu nó bao hàm ý hướng làm chứng cho Đức Kitô trước các quốc gia và các dân tộc. Chiều kích truyền giáo này không đơn thuần là một khía cạnh lập trình (programmatic) trong đời sống Kitô giáo, nhưng còn là chiều kích mô thức (paradigmatic) ảnh hưởng tới mọi khía cạnh của đời sống Kitô giáo.

3. Công cuộc rao giảng Tin Mừng thường gặp những chướng ngại không chỉ từ bên ngoài mà còn từ bên trong cộng đoàn Hội Thánh. Có khi chúng ta thiếu nhiệt tình, niềm vui, sự can đảm và hy vọng trong việc loan báo sứ điệp của Đức Kitô cho mọi người. Cũng có khi chúng ta vẫn còn nghĩ rằng rao giảng sự thật của Tin Mừng có nghĩa là xâm phạm tự do. Đức Phaolô VI từng hùng hồn nói về điểm này: “Có thể là… một sai lầm khi chúng ta áp đặt điều gì đó trên lương tâm của anh chị em chúng ta. Nhưng việc đề nghị cho lương tâm của họ sự thật của Tin Mừng và ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, một cách hoàn toàn rõ ràng và hoàn toàn tôn trọng những chọn lựa tự do mà sự thật của Tin Mừng trình bày… là một sự cống hiến cho sự tự do này” (Evangelii nuntiandi, 80). Chúng ta phải luôn luôn có lòng can đảm, vui vẻ và tôn trọng để đề nghị một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, và trở thành những sứ giả Tin Mừng của Người. Đức Giêsu đến giữa chúng ta để chỉ cho chúng ta con đường cứu độ, và Người uỷ thác cho chúng ta sứ mạng loan báo ơn cứu độ tới tận cùng trái đất. Không ít khi chúng ta thấy người ta thích đề cao và cổ võ bạo lực, dối trá và sai lầm. Trong thời đại này, chúng ta thấy cấp bách phải loan báo và làm chứng cho sự tốt lành của Tin Mừng, ngay từ trong nội bộ của Hội Thánh. Vì vậy chúng ta không bao giờ được quên một nguyên tắc cơ bản cho mọi người rao giảng Tin Mừng: không thể loan báo Đức Kitô mà không có Hội Thánh. Loan báo Tin Mừng không phải là một hành vi riêng tư hay đơn lẻ của một cá nhân; nó luôn luôn là một hành vi Hội Thánh. Đức Phaolô VI viết: “Một người giảng thuyết, một giáo lý viên hay mục tử dù không tên tuổi, nhưng khi họ giảng Tin Mừng, tập hợp cộng đoàn, ban một bí tích, dù họ chỉ làm một mình, nhưng việc họ làm luôn luôn là một hành vi của Hội Thánh”. Họ hành động không phải “vì sứ mạng họ tự gán cho mình hay tuỳ hứng cá nhân, nhưng trong sự hiệp nhất với sứ mạng của Hội Thánh và nhân danh Hội Thánh” (ibid., 60). Đây chính là cái tạo nên sức mạnh cho sứ mạng và làm cho mọi người truyền giáo cảm thấy mình không bao giờ đơn độc, nhưng là một Thân Mình duy nhất được Chúa Thánh Thần làm cho sinh động.

4. Trong thời đại chúng ta, khả năng di động và dễ dàng của các phương tiện truyền thông hiện đại đã giúp hoà trộn những con người, kiến thức và kinh nghiệm. Vì công việc làm ăn, nhiều gia đình đã di chuyển từ châu lục này sang châu lục khác; các trao đổi về chuyên môn và văn hoá, các hoạt động du lịch và các hiện tượng khác cũng đã thúc đẩy sự di chuyển đại trà của dân chúng. Sự kiện này gây khó khăn cả cho cộng đoàn giáo xứ vì không biết được ai cư trú vĩnh viễn hay tạm thời tại khu vực mình. Hơn nữa, tại các vùng rộng lớn mà xưa nay vốn là những vùng Kitô giáo, ngày càng có nhiều người trở nên hoàn toàn xa lạ với đức tin, hay dửng dưng với vấn đề tôn giáo hay chịu tác động bởi các niềm tin khác. Vì thế không hiếm thấy một số người đã được rửa tội nay chọn những nếp sống làm cho họ rời xa đức tin, vì thế họ cần có một cuộc “tân phúc âm hoá”. Thêm vào đó, một phần lớn nhân loại vẫn còn chưa được nghe Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Chúng ta cũng đang sống trong một cuộc khủng hoảng chạm đến nhiều lãnh vực khác nhau của đời sống, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, tài chánh, lương thực, hay môi trường, mà cả về ý nghĩa sâu hơn của đời sống và các giá trị cơ bản của đời sống. Ngay cả việc chung sống của loài người cũng chứa đầy những căng thẳng và xung đột gây nên sự bất an và khó khăn trong việc tìm ra con đường đúng đắn dẫn đến một nền hoà bình bền vững. Trong hoàn cảnh phức tạp này, khi những đám mây mù có vẻ đang đe doạ hiện tại và tương lai, cần phải có can đảm rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô, là một sứ điệp về niềm hy vọng, hoà giải, hiệp thông và việc công bố sự gần gũi của Thiên Chúa, lòng thương xót và ơn cứu độ của Người; một lời công bố rằng sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa có khả năng khắc phục bóng tối của sự ác và dẫn chúng ta đi trên con đường của sự thiện. Nhân loại của thời đại chúng ta cần ánh sáng của sự an toàn để soi đường mà chỉ có sự gặp gỡ với Đức Kitô có thể ban cho. Chúng ta hãy đem ánh sáng ấy đến cho thế giới này bằng chứng tá của chúng ta, bằng tình yêu và niềm hy vọng do đức tin ban cho! Việc truyền giáo của Hội Thánh không phải là việc chiêu dụ, nhưng là chứng từ của một đời sống soi sáng đường đi, đem lại tình yêu và hy vọng. Tôi lặp lại một lần nữa, Hội Thánh không phải là một tổ chức cứu trợ, một doanh nghiệp hay một tổ chức phi chính phủ, nhưng là một cộng đoàn những con người được Chúa Thánh Thần làm cho sinh động; những con người đã và đang sống cuộc gặp gỡ kỳ diệu với Đức Kitô và muốn chia sẻ kinh nghiệm này về niềm vui sâu xa, sứ điệp cứu độ mà Chúa ban cho chúng ta. Chính Thánh Thần hướng dẫn Hội Thánh đi trên con đường này.

5. Tôi muốn khích lệ mọi người trở thành những người mang Tin Mừng Chúa Kitô và tôi đặc biệt ghi ơn các nhà truyền giáo, các linh mục, các nam nữ tu sĩ và giáo dân thuộc diện Fidei Donum ngày càng đông đảo hơn đón nhận tiếng gọi của Chúa mà rời bỏ quê hương của mình để đi phục vụ Tin Mừng tại các miền đất và các nền văn hoá khác nhau. Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng chính những Giáo Hội trẻ này cũng đang quảng đại dấn thân gửi người truyền giáo đến với các Giáo Hội đang gặp khó khăn –trong số đó không ít những Giáo Hội có truyền thống Kitô giáo lâu đời– nhờ đó đem đến sự tươi trẻ và phấn khởi để họ sống đức tin của họ để canh tân đời sống và có niềm hy vọng. Sống trong bầu khí tươi trẻ này, việc đáp lại lệnh truyền của Đức Kitô, “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 19) đem lại sự phong phú cho mỗi Giáo Hội địa phương và mỗi cộng đoàn địa phương, vì việc gửi người đi truyền giáo không bao giờ là một sự mất mát nhưng là một mối lợi. Tôi kêu gọi tất cả những ai cảm thấy có ơn gọi này hãy quảng đại đáp lại Chúa Thánh Thần, tuỳ theo bậc sống của mình, và đừng sợ quảng đại với Chúa. Tôi cũng mời gọi các giám mục, các dòng tu, các cộng đoàn và mọi nhóm Kitô hữu hãy khôn ngoan sáng suốt đáp lại lời kêu gọi truyền giáo của Sắc lệnh Ad Gentes và giúp đỡ các Giáo Hội đang cần những linh mục, tu sĩ và giáo dân để kiện cường cộng đoàn Kitô hữu. Và cũng cần phải có sự lưu ý này giữa các Giáo Hội nằm trong cùng một Hội đồng Giám mục hay Vùng, bởi vì các Giáo Hội giàu có ơn gọi cần phải quảng đại hơn trong việc giúp đỡ các Giáo Hội thiếu ơn gọi.

Tôi tha thiết kêu gọi các vị truyền giáo, đặc biệt các linh mục và các giáo dân thuộc diện Fidei Donum hãy hân hoan sống việc phục vụ quý báu của họ trong các Giáo Hội họ được sai đến và đem niềm vui và kinh nghiệm của mình về cho các Giáo Hội gốc của họ, đồng thời nhớ lại sự kiện thánh Phaolô và thánh Barnabê, sau khi kết thúc hành trình truyền giáo của các ngài, “đã thuật lại những việc Thiên Chúa đã làm với các ngài và các ngài đã mở cửa đức tin cho các Dân Ngoại như thế nào” (Cv 14, 27). Họ có thể trở thành một con đường cho một sự “trở về” với đức tin, mang niềm tươi trẻ của các Giáo Hội trẻ cho các Giáo Hội kỳ cựu khám phá lại sự phấn khởi và niềm vui của việc chia sẻ đức tin trong một sự trao đổi giúp làm giàu lẫn nhau trong cuộc hành trình theo chân Chúa. Mối quan tâm tới mọi Giáo Hội mà Giám mục Rôma chia sẻ với các anh em giám mục của mình là một cam kết quan trọng trong việc thực hiện của các Hội Giáo hoàng Truyền giáo, là các Hội có mục đích sinh động hoá và đào sâu ý thức truyền giáo nơi mọi người Kitô hữu và mọi cộng đoàn, bằng cách nhắc nhở họ về nhu cầu đào luyện truyền giáo sâu hơn cho toàn thể Dân Chúa và nuôi dưỡng ý thức truyền giáo của cộng đoàn Kitô để giúp cổ võ việc truyền bá Tin Mừng trên thế giới.

Sau cùng, tôi nghĩ đến những người Kitô hữu tại nhiều nơi trên thế giới đang gặp khó khăn trong việc công khai tuyên xưng đức tin của mình, những người không được nhìn nhận và tôn trọng quyền sống xứng với nhân phẩm của họ. Họ là các anh chị em của chúng ta, những chứng nhân can đảm –thậm chí còn đông số hơn các vị tử đạo của chúng ta trong những thế kỷ đầu– đang kiên trì theo gương các tông đồ mà chịu đựng biết bao hình thức bách hại hiện nay. Một số ít người còn liều mạng để sống trung thành với Tin Mừng Đức Kitô. Tôi muốn bảo đảm với họ rằng trong các kinh nguyện của mình, tôi gần gũi với các cá nhân, các gia đình và các cộng đoàn đang chịu cảnh bạo lực và thiếu khoan dung, và tôi lặp lại cho họ những lời nói an ủi của Chúa Giêsu: “Anh em hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16, 33).

Đức Bênêđictô XVI khích lệ: “Lời Chúa có thể mau chóng lan rộng và được tôn vinh khắp nơi, như đang ở giữa anh em” (2 Tx 3, 1). Ước gì Năm Đức Tin này càng ngày càng kiện cường mối quan hệ của chúng ta với Chúa Kitô, vì chỉ ở trong Người chúng ta mới có niềm tin chắc hướng tới tương lai và bảo đảm một tình yêu chân chính và lâu bền” (Porta fidei, 15). Đây chính là lời nguyện ước của tôi trong Ngày Thế giới Truyền giáo năm nay. Tôi thân ái chúc lành cho các vị truyền giáo và tất cả những ai đồng hành và nâng đỡ sự dấn thân của Hội Thánh cho việc loan báo Tin Mừng tới tận cùng trái đất, và chúng ta, các thừa tác viên và các nhà truyền giáo của Tin Mừng, chúng ta sẽ trải nghiệm “niềm hoan lạc và an ủi của việc loan báo Tin Mừng” (Phaolô VI, Evangelii nuntiandi, 80).

Làm tại Vatican, ngày 19 tháng Năm, 2013, Đại lễ Hiện Xuống

Phanxicô

Người chuyển dịch:  Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên

Nguồn:  WHĐ

 

Lm. Anmai, DCCT

Đứng trước một lựa chọn, ai ai cũng phải suy nghĩ, cân nhắc và cả cầu nguyện nếu như người đó có niềm tin vào Thiên Chúa, vào Thượng Đế, vào Đức Phật, vào đấng mà mình tin theo. Cầu nguyện để xin các đấng trợ lực cũng như giúp sức cho quyết định của mình được chín chắn, được phù trợ, được chở che ...

Hôn nhân ! Mối lo, nỗi bận tâm lớn của đời người khi chọn cho mình đời sống hôn nhân gia đình. Lẽ dĩ nhiên, trước khi đi đến quyết định cuối cùng thì người đi vào đời sống hôn nhân cũng cân nhắc, trao đổi, bàn tính ...  Và, ai ai cũng mong cho mình nên trọn mối duyên, mong cho mình được trăm năm hạnh phúc, được sống với nhau cho đến ngày "răng long đầu bạc". Thật ra, đó là khát vọng rất chính đáng và là niềm mơ ước của những ai đi vào đời sống hôn nhân gia đình.

Thế nhưng, đứng trước đời sống hôn nhân gia đình ngày hôm nay, thi thoảng dừng lại để kiểm thảo, để nhìn lại thì thấy có nhiều vấn đề hay nói gần hơn một chút là có quá nhiều vấn đề. Quá nhiều vấn đề bởi lẽ ngày hôm nay khi đời sống kinh tế xã hội mở ra, đời sống kinh tế thị trường thay đổi thì kèm theo đó không ít ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân gia đình.

Người ta nói, nghèo có cái khổ của cái nghèo và giàu cũng có cái khổ của cái giàu. Không sai bởi vì cũng có thể do cái nghèo nó làm cho gia đình tan vỡ và cũng có thể cái giàu nó làm cho gia đình tan vỡ. Và như thế, khi đối diện với đời sống gia đình, người ta cần phải cân nhắc hơn trước khi quyết định.

Một người trẻ tìm đến gặp tôi để tỏ bày chia sẻ. Anh chàng năm nay tuổi cũng không quá lớn nhưng cũng không phải là còn nhỏ để không nhìn thấy thực trạng của gia đình anh. Nói chuyện về gia đình mà hai dòng nước mắt nó cứ như muốn trào ra. Anh ta nói rằng không phải đến ngày hôm nay bố mới làm khổ gia đình. Bao nhiêu năm rồi và phải nói là lâu lắm rồi gia đình cứ cắn đắng, cứ lục đục với nhau. Số ngày gia đình anh hạnh phúc đếm trên đầu ngón tay.

Trong nghẹn lời, anh nói rằng chẳng hiểu sao bố nằng nặc đòi ly dị với mẹ dù cho mấy anh em trong nhà van xin bố hết lời. Chàng trai trẻ cầu nguyện cũng như thuyết phục bố nhưng không được. Cuối cùng gia đình đồng ý theo ý của bố là để bố ly dị mẹ như là một giải thoát cho mẹ.

Chẳng biết nói gì với em cả. Chỉ biết nói lời chia buồn cũng như an ủi với em và nói với em là hãy cố gắng vượt qua cú sốc quá lớn này. Hãy cố gắng làm cho mọi chuyện qua đi bởi vì giờ này suy nghĩ cũng không giải quyết được chuyện gì. Hãy cố ăn uống, ngủ nghỉ cho điều độ để còn giữ sức đi làm nuôi mẹ.

Bóng em đã xa khuất nhưng hình ảnh con người đang đau khổ của em vẫn còn mãi trong tôi. Ba mẹ lấy nhau hơn ba chục năm chứ đâu phải mới mẻ gì để giờ này lại nói lời chia tay. Thật không thể hiểu được.

Một đôi bạn không gần mà cũng không quá xa bởi lẽ cũng có một mối tương quan nhất định nào đó trong một khoảng thời gian. Gia đình đang ấm êm hạnh phúc, bỗng đến một ngày kia nghe đâu giữa họ có những chuyện xích mích. Họ cũng đã nhờ vài cha thân quen để đến cho họ tỏ bày vướng mắc của nhau. Các cha cũng đã cố gắng hết sức khuyên nhủ cũng như thêm lời cầu nguyện cho mối tương quan của cả hai không đổ vỡ vì dẫu sao họ cũng đã nên nghĩa vợ chồng và đặc biệt đã thành hôn với nhau trong Bí tích Hôn Phối.

Câu chuyện của đôi bạn cũng đến tôi và khi hỏi thì được nghe, nhưng khi nghe thì mỗi người đưa ra cái lý của mình. Nghiệt ngã là ai cũng cho cái lý của mình đúng để không tìm được tiếng nói chung trong đời sống vợ chồng. Cũng chỉ biết thêm lời cầu nguyện để cho họ vượt qua cơn khủng hoảng lớn này trong đời sống gia đình mà họ đang gặp phải.

Đây cũng chỉ là hai trong nhiều gia đình đang đứng trước cửa ngõ của chia ly. Thật ra thì tôi cũng như ai nào đó đứng ở bên ngoài, cũng chỉ thấy, cũng chỉ nghe lý luận họ đưa ra để đi đến quyết định ly dị. Tôi, cũng như những người thân không sống trong gia đình của họ nên thật sự cũng không thể nào thấu hiểu bên trong cũng như không biết được ai đúng ai sai. Giờ chỉ biết là họ đang căng thẳng và chờ ngày ra tòa.

Nỗi đau của những gia đình gần gũi thân quen đó cũng chính là nỗi đau của bản thân tôi. Nỗi buồn của gia đình họ cũng là nỗi buồn của tôi bởi lẽ một cách nào đó tôi cũng dính dự với gia đình trong tư cách là bạn bè, là thân hữu. Khi họ chia ly như thế làm sao tôi tránh khỏi những nghĩ suy, những nỗi lòng trăn trở.

Nhìn những gia đình đó lại nhìn những gia đình đang bước vào đời sống hôn nhân gia đình. Không bi quan để cứ nghĩ đến chuyện chia ly như hai gia đình trên nhưng cũng không nên lạc quan tếu trước khi cùng nhau đi đến quyết định sống chung với nhau bởi vì không chỉ ràng buộc ngoài đời qua tờ giấy đăng ký kết hôn mà nó còn gắn kết với nhau nơi bí tích mà không bao giờ phá vỡ được theo luật Chúa và Hội Thánh.

Nhìn những gia đình đó lại bận tâm, lại nghĩ suy cho những đôi bạn đang tìm hiểu, đang tiến tới. Vẫn chỉ cầu mong cho họ được trăm năm hạnh phúc, vẫn chỉ mong cho họ sống với nhau cho đến ngày bạc đầu rụng tóc răng long.

Để có được cái mong, cái ước nguyện đó các bạn trẻ cần phải ngồi lại với nhau để tìm hiểu, để trao đổi, để sẻ chia và đặc biệt là phải cầu nguyện trước khi đi đến quyết định cuối cùng. Nếu như chỉ đến với nhau với cái vẻ bên ngoài, với tiền bạc, với danh vọng, với địa vị ... thì thật là đáng tiếc. Nếu đi đến quyết định một cách chóng vánh thiếu nghĩ suy cũng như cân nhắc và đặc biệt là cầu nguyện thì e rằng đời sống hôn nhân cũng sẽ rất éo le và chông chênh.

Hôn nhân không chỉ một ngày một bữa, một tháng một năm hay mười hay hai mươi năm nhưng là chặng đường dài cho đến cuối cuộc đời. Cầu mong và nguyện chúc cho những ai đang bước vào đời sống hôn nhân gia đình hãy thận trọng, cân nhắc, suy nghĩ và đặc biệt là cầu nguyện xin Chúa chúc lành và thánh hóa cho mối tình của mình, cho gia đình của mình. Chỉ như thế, ta mới mong và sống được đến ngày cuối của cuộc đời trong tình yêu và ơn nghĩa của Thiên Chúa là Vua của Tình Yêu.

Thiên Chúa hay máy bắn tốc độ?

Giuse Ngọc Huỳnh

Nhiều người lầm tưởng Thiên Chúa của lòng tin Kitô giáo chỉ là một vị thần vô ngã hay một thế lực thần thiêng kinh khủng.

Khi người ta quan niệm về Thiên Chúa như thế, thì tội lỗi, trong thực chất, chỉ được nhìn nhận như một chuyện sơ suất của tôi trước một thế lực thần linh và làm phật lòng thế lực thần linh đó, thế thôi. Và thế lực đó sẽ không để cho tôi yên hàn, nếu tôi không làm một nghi lễ “giải hạn” nào đó để xoa dịu cơn tức giận của nó. 

Thiên Chúa bị biến thành một cái máy chuyên rình xem tôi có lỗi phạm gì không, và nếu tôi chọc tức cái máy ấy, tôi sẽ bị trả thù một cách máy móc, sớm hay muộn thôi. Cứ như khi tôi chạy xe ngoài đường, luôn có một cái máy bắn tốc độ đang rình rập để “tóm” tôi, xem tôi có vượt tốc độ cho phép hay không. Khi không may bị tóm, tôi sẽ chẳng thể tranh luận với cái máy đó được… Chỉ còn một cách: nộp phạt (hoặc nếu ma mãnh hơn: hối lộ anh chàng cảnh sát…). Rồi chuyện còn lại là rút kinh nghiệm để không bị… tóm một lần nữa. Thế thôi.

Bạn đừng tưởng không có những Kitô hữu quan niệm sai lầm như thế về Thiên Chúa. 

Bạn cứ thử suy nghĩ kỹ về cách mình đến tòa giải tội mà xem… Bạn đến đó để tìm gặp Lòng Từ Bi Thương Xót đang phập phồng chờ đợi bạn, hay chỉ đơn giản là để nộp phạt vì đã vi phạm một quy định nào đó và sau đó… cất giấy tờ vào túi và đi tiếp? 

Bạn đến nhà thờ ngày Chủ Nhật để tránh né cơn tức giận của một viên an ninh đòi hỏi bạn hàng tuần phải đến trình diện, hay để gặp gỡ Vị Thiên Chúa đang tha thiết và thèm khát được gặp bạn để yêu thương bạn, và chính bạn cũng đang tha thiết được gặp gỡ và yêu thương Người cùng với anh chị em mình?

Nhìn sâu vào tâm hồn mình, có khi chúng ta phải giật mình vì không ngờ mình vẫn còn…