Get Adobe Flash player

Trăng vàng mùa thu

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Mùa thu đã về! Vẻ đẹp của mùa thu được ghi dấu bởi những chiếc lá vàng rơi lãng đãng, trong làn sương mù bàng bạc và làn gió se se lạnh đầu ngày.

Vẻ đẹp của mùa thu còn đi liền với ánh trăng. Mặc dù mặt trăng xuất hiện quanh năm, nhưng trăng mùa thu mới mang một vẻ đẹp huyền bí, tạo nên một nét đẹp vừa thanh tao vừa lãng mạn, nhất là ở miền quê, là nơi không có nhiều ánh sáng của đèn điện. Ánh trăng thu dịu êm và tươi mát, tạo cho ta một cảm giác thư thái thanh bình. Sau một ngày lao động mệt nhọc, vầng trăng thu giúp ta lấy lại sức khỏe thể xác và tinh thần. Trăng thu đã gợi hứng cho các thi sĩ tạo nên những áng thơ bất hủ. Hàn Mặc Tử, một thi sĩ công giáo, đã gắn bó cả cuộc đời mình với trăng và với thơ. Trong cuộc đời và sự nghiệp của người thi sĩ này, trăng là bạn và là nguồn cảm hứng để ông sáng tác. Ông không thể thiếu trăng trong cuộc đời. Đối với ông, trăng gợi hứng để cầu nguyện, trăng giúp ông nâng tâm hồn lên với Chúa và giúp ông trở về với đời sống nội tâm. Trăng còn là người bạn tri kỷ, là nơi ông trút bầu tâm sự những lúc ông bị căn bệnh phong quái ác hành hạ. Trăng như một người tình vừa hư vừa thực, vừa trần tục vừa thanh tao. Trăng là nơi gửi gắm yêu thương và cũng là nơi ông thể hiện sự dỗi hờn. Yêu trăng đến mức say trăng và nhìn đâu cũng thấy trăng, có lẽ điều này chỉ có nơi Hàn Mặc Tử. Cũng như thi sĩ, thiên nhiên vũ trụ đều ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của trăng:

“Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp, Chị Hằng ơi” (Bẽn lẽn)

Ở nước ta và ở Trung Quốc, tết Trung thu được tổ chức vào rằm tháng 8 âm lịch. Ngày tết này cũng được gọi là tết Trông Trăng. Từ thành phố tới thôn quê, mỗi nơi mỗi vẻ, những cuộc múa lân được tổ chức rộn ràng, với tiếng trống thùng thình vang dội, thu hút nhiều trẻ em và người lớn tham gia. Những bài hát mang nội dung ca ngợi mặt trăng mà người ta gọi với cái tên rất thân thương là “Chị Hằng”. “Chị Hằng” được coi như người thân của mọi người, rất xinh đẹp và thân thiện, lại là người tốt bụng hay tặng quà cho các bé ngoan. Người ta tổ chức cỗ trung thu gồm bánh, kẹo và trái cây các loại. Các em thiếu nhi thì vui mừng nhảy múa ca hát, tới khuya thì cùng “phá cỗ”, tức là mọi người cùng thưởng thức mâm cỗ đã chuẩn bị. Tết Trung thu là tết của người lớn cũng như của trẻ em. Đây là dịp biểu lộ sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ đối với con cái, là ngày hội ngộ gia đình trong bầu khí thân thương, hài hòa.

Nếu người Việt Nam và người Trung Hoa tổ chức lễ Trung thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch để ca ngợi vẻ đẹp của vầng trăng, thì người công giáo cũng tôn vinh Đức Mẹ Maria vào ngày 15 tháng 8 dương lịch. Trong thi ca công giáo, Đức Mẹ được sánh ví như vầng trăng tuyệt vời. Đức Mẹ không chỉ là vầng trăng cho một số dân tộc mà là vầng trăng cho cả nhân loại. Nơi Mẹ, chúng ta tìm thấy tất cả những ưu điểm của vầng trăng như sự dịu mát, thanh bình, hướng tâm, thánh thiện:

“Mẹ là suối mát trinh nguyên giữa sa mạc hoang.

Mẹ là trăng thanh đêm về chiếu sáng mênh mang.

Mẹ là tiếng hát ru êm giữa đêm hè vắng.

Mãi mãi Mẹ là mây trời biển rộng thênh thang” (Dao ca Mẹ dịu hiền – Văn Chi)

Hơn thế nữa, Mẹ Maria còn là Đấng che chở và phù giúp chúng ta trong cuộc sống dương thế đầy gian nan vất vả. Chúng ta đều biết, mặt trăng là một tinh tú ở gần trái đất. Nó không có khả năng phát sáng, mà nó tiếp nhận ánh sáng từ mặt trời giống như bao vì tinh tú khác. Nhờ việc tiếp nhận này, mặt trăng được sưởi ấm và tích tụ ánh sáng để chiếu soi ban đêm, khi mà mặt trời bị khuất dạng bởi trái đất xoay vần. Vì thế mà ánh trăng luôn dịu dàng, thanh thoát và chiếu sáng vào ban đêm. Mẹ Maria là một thụ tạo hoàn hảo của Thiên Chúa. Mẹ nhận ánh sáng Chân Lý từ Đức Giêsu Kitô, là Mặt Trời Công Chính để rồi Mẹ thông truyền cho thế gian. Ánh sáng của Chúa Giêsu là tình yêu, lòng nhân hậu, sự từ tâm, tình huynh đệ, lòng bao dung tha thứ, lòng trung thành và khiêm nhường… Đức Giêsu là Ánh Sáng Thật, Ánh Sáng Bởi Ánh Sáng, tức là nơi Người phản ánh hình ảnh của Chúa Cha là cội nguồn ánh sáng. Ánh Sáng này đã đến thế gian để phá tan tăm tối mịt mù, để xóa bỏ hận thù ghen ghét, và khai mở một thế giới yêu thương. Tất cả giáo huấn của Chúa trong Tin Mừng đều nhằm đến nội dung căn bản này. Như thế, đón nhận Đức Giêsu là đón nhận ánh sáng từ trời, nhờ đó ta nhận ra con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực.

Là người Kitô hữu, chúng ta cũng được tiếp nhận ánh sáng thiêng liêng từ Chúa Giêsu, qua Giáo Hội. Trong nghi thức rửa tội, vị linh mục chủ sự trao cho thụ nhân một cây nến sáng và nói: “Con đã trở nên ánh sáng Chúa Kitô, con hãy luôn sống như con cái của sự sáng, để được bền vững trong đức tin, khi Chúa đến, con xứng đáng ra nghinh đón Người với toàn thể các thánh trên trời” (Nghi thức Rửa tội). Cũng như Đức Maria, Vầng Trăng Thu tuyệt hảo, đã đón nhận ánh sáng từ Đức Giêsu là Mặt Trời Công Chính để giãi ánh vàng êm dịu cho trần gian, chúng ta, các Kitô hữu, cũng được đón nhận ánh sáng từ Đấng Cứu độ, để thông truyền cho cuộc đời, góp phần đẩy lui bóng tối là sự hận thù ghen ghét và dối gian.

Chúng ta đang chuẩn bị đón tết Trung thu, bầu khí rộn ràng của ngày hội vui này đang lan tỏa trong cộng đồng xã hội. Ước chi mỗi tín hữu biết ca tụng quyền năng Thiên Chúa khi ngắm vầng trăng vàng mùa thu, đồng thời nhận ra sự che chở yêu thương của Đức Mẹ, Vầng Trăng Vĩnh Cửu.

Nguồn: WHĐ

 

Giuse Ngọc Huỳnh

Những gì đang diễn ra tại Mỹ Yên - Nghệ An, cho thấy người ta đang đề cao bạo lực và sự giả dối.

Tôi rùng mình nhớ lại những sự tàn bạo đã từng được thực hiện tại Hà Nội năm 2008.

Sự tàn bạo luôn dựa trên một giả định đáng sợ: kẻ thù và tôi thì hoàn toàn khác nhau, kẻ thù thì hoàn toàn xấu xa còn tôi thì thật là tốt lành, kẻ thù thì phi nghĩa còn tôi thì có chính nghĩa... Trong cái nhìn của bạo lực: kẻ thù thì phải bị tiêu diệt đi, còn tôi thì phải được cứu sống.

Nhưng tình yêu lại nhìn nhận thực tại theo một cách thức hoàn toàn khác hẳn. Tình yêu nhìn thấy cả kẻ thù lẫn tôi đều đau khổ vì những mất mát và những giới hạn y như nhau. Và đối với cả hai, sự chết đều thật là kinh khủng...

Tình yêu có thể nói cho chúng tôi hay rằng: người khác không phải là kẻ thù, mà là người anh em của tôi.

Bạo lực và sự giả dối mới là kẻ thù thật sự của họ và tôi...

Cần tránh xa những thù ghét và bạo lực

Giuse Ngọc Huỳnh

Thù ghét và hành xử bạo lực, thật ra, chẳng khác gì việc tấn công người khác bằng một thanh sắt nóng bỏng: một khi cầm miếng kim loại nóng bỏng kia lên, bàn tay của anh chắc chắn sẽ bị thiêu huỷ ngay trong chính lúc anh thiêu huỷ người khác.

Không thể chấp nhận việc người ta tiếp tục sử dụng bạo lực và những thủ đoạn bất nhân để đàn áp mọi sự khác biệt ý kiến về việc xây dựng xã hội!

Giáo huấn của Hội Thánh dạy:

“Bạo lực là giải pháp không thích đáng. Với xác tín về niềm tin vào Đức Kitô và với ý thức về sứ mạng của mình, Giáo Hội tuyên bố: bạo lực là tội ác, không thể chấp nhận bạo lực làm giải pháp cho các vấn đề; bạo lực là điều không xứng đáng với con người. Bạo lực là sự dối trá, vì nó đi ngược lại sự thật của đức tin và sự thật của nhân loại. Bạo lực phá huỷ tất cả những gì nó hô hào bảo vệ, từ phẩm giá đến sự sống và tự do của con người”.

Thù ghét chính là hạt giống sự chết trong con tim tôi, vì nó tìm kiếm sự chết cho người khác.

Tình yêu là hạt giống sự sống trong con tim tôi, vì nó tìm kiếm sự thiện cho người khác.

Di Chúc thứ 2: Này là con bà, . . . đây là mẹ con (Ga 19, 26)

G. Tuấn Anh

Có ít nhất 2 đặc điểm thể hiện mối tương quan với nhau giữa đoạn Tin Mừng mô tả tiệc cưới Cana và lúc Chúa Giêsu trên thập giá, đó là từ “giờ” và từ “bà” trong hai văn bản này. Trong khi Đức Maria muốn nói đến rượu vật chất thì Chúa Giêsu muốn hướng tới rượu tâm linh, biểu hiện hoàn hảo cho ơn cứu độ. Khái niệm “giờ” trong câu “giờ tôi chưa đến” trong tiệc cưới Cana hàm qui chiếu đến giờ chết và tôn vinh Ngài trên thập giá. Danh xưng “bà” trong tiệc cưới Cana làm chúng ta hơi lúng túng khi giải thích nếu chỉ xét trọng bối cảnh tiẹc cưới, lại được giải thích một cách rõ ràng bởi một mặc khải trong đoạn Tin Mừng sau đó qua câu di chúc thứ 2, mà Chúa Giêsu nhắn nhủ lại cho con cái Người: “Này là con bà, . . . đây là mẹ con”. Chiều kích Thánh Mẫu học nhờ đó được lộ dần ra và chức năng mới của Đức Maria trong mầu nhiệm cứu chuộc cũng được tỏ hiện. Mẹ Maria trở thành Mẹ của Gioan- đại diện cho các tông đồ- cũng là đại diện cho thành phần ưu tú nhất của giáo hội thời sơ khai. Thánh Gioan được Đức Giêsu chọn lựa như là người mẫu mực của giáo hội vì lòng mến và đức tin của người là không quanh co và không buộc cần chứng cứ.

Mạc khải quan trọng này được tỏ ra muộn màng và bố trí ở phần cuối của Tin Mừng là hợp lý, vì sao? Vì Thiên Chúa muốn nhấn mạnh: nhân vật chính của Tin Mừng là Chúa Giêsu, tâm điểm của Tin Mừng là cuộc khổ nạn và sự phục sinh vinh quanh của Ngài.

Trong lời di chúc 1, Đức Maria nhắn nhủ các gia nhân (đại diện cho chúng ta) hãy nhanh chóng vâng lời Đức Giêsu, như thế Mẹ Maria đã thực hiện chức năng quan trọng nhất về mẫu tính siêu nhiên của mình. Đức Maria mong ước chúng ta thi hành một cách trọn vẹn những gì Thiên Chúa giảng dạy, và những người thực thi này sẽ tạo ra một cộng đoàn mới của giao ước mới, đó là giáo hội.

Với di chúc 2, Chúa Giêsu hàm ý cho chúng ta biết rằng, để trở nên con cái Thiên Chúa, là anh em với Đức Kitô, chúng ta phải đón nhận Đức Maria là Mẹ và là thành viên của giáo hội.

Di chúc thứ 2 chỉ ra cho chúng ta một con đường ngắn để đến với Chúa, là hãy đón Đức Maria về nhà mình, đúng hơn là vào tâm hồn mình. Mẹ sẽ hướng dẫn và cầu nguỵện giúp chúng ta phương cách “xin vâng” đẹp lòng Thiên Chúa nhất.

Nhờ logic suy diễn, chúng ta sẽ trở thành người có phúc, nếu biết rước vào lòng mình Đức Maria –“Đấng mà muôn đời luôn khen Bà là người có phúc”.

Di chúc của một cá nhân được xem là tri thức tinh hoa và cần thiết nhất sau nhiều năm trải nghiệm, mà một người trước khi nằm xuống cần truyền cho thế hệ sau. Và nếu nhìn ở góc độ này, chúng ta mới đánh giá mức độ quan trọng của 2 câu di chúc và ý nghĩa của nó trong đời sống của mỗi Kitô hữu.

Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II nói rằng: “Chúng ta không thể đón nhận trọn vẹn Đức Trinh Nữ Maria lả mẹ mà lại không ngoan ngoãn nghe lời Người, là lời chỉ cho chúng ta thấy Đức Giêsu là Thầy sự thật, là lời phải nghe và làm theo: Ngài bảo gì các anh cứ làm theo”.

Lạy Mẹ Maria, dù ngôi nhà, tấm lòng của con là nhỏ bé, thậm chí rách nát, xấu xí và chẳng xứng đáng, chúng con vẫn luôn khao khát được Mẹ thường trú trong không gian này.

Hai lời di chúc

G. Tuấn Anh

Mặc dù xuất hiện rất ít trong Tin Mừng của Gioan nói riêng và của các tác giả khác nói chung, nhưng Đức Maria luôn có mặt tại những thời điểm rất quan trọng. Có hai thời điểm quan trọng thánh Gioan tường thuật, và Đức Maria đã có mặt: trong phép lạ đầu tiên của Chúa Giêsu tại Cana trong 3 năm rao giảng, và trên đồi Gôngotha, dưới chân thánh giá, nơi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng.

Lần xuất hiện thứ 1, Đức Maria đã nói và cũng là câu cuối cùng Mẹ để lại cho chúng ta. Lần thứ 2, Chúa Giêsu cũng truyền lại câu cuối cùng cho hậu thế. Đó là hai câu di chúc có ý nghĩa  to lớn đối với mọi Kitô hữu.

Di chúc thứ 1: Người nói gì, các anh cứ làm theo (Ga 2, 5)

Các Kitô hữu đang quây quần trong một gia đình, mà Chúa Giêsu là Cha, Đức Maria là Mẹ. Các Ngài là đấng luôn yêu thương và giàu lòng thương xót. Trong cuộc đời mỗi người, chuyện thăng trầm luôn là một qui luật và chúng ta đã vài lần cạn rượu trên con đường này. Rượu có thể là trí tuệ, hy vọng, sức khỏe . . . Những lúc ấy, nếu người con biết chạy đến khẩn cầu với Cha Mẹ, chúng ta mới thấu hiểu tình yêu, sự quan phòng và quyền năng của các Đấng. Đức tin nhờ đó mà tạo ra một bước ngoặc hoặc chí ít cũng tăng trưởng.

Cách tăng trưởng đức tin như trên không đáng ca ngợi và không là cách tăng trưởng duy nhất. Nhưng thà rằng, chúng ta nhận ra tình yêu của Thiên Chúa với một cách tiếp cận non kém, như người con thứ hai trong câu chuyên “người cha nhân lành”, còn hơn người con thứ nhất, không nhận ra tình yêu to lớn mà Cha dành cho chính mình và cả cho những người khác nữa.

Dân gian ta nói rằng, có hai thứ mà ta chỉ dễ nhận ra khi đã mất đi: tình yêu và sức khỏe.

Thiên Chúa có cách dẫn dắt để đưa đức tin một cá thể được trưởng thành từ các tình huống cụ thể của cuộc sống đời thường. Ví dụ, Ngài dùng việc xin nước uống với người phụ nữ Samaria để diễn tả nguồn nước thiêng liêng, trường sinh; hoặc qua việc hóa nước thành rượu Ngài muốn hướng người nghe đến một tiệc thiên sai mà Ngài sẽ ban cho tràn trề qua sứ mệnh tử nạn và phục sinh của Ngài. Như thế, nước, rượu vật chất được Chúa Giêsu dùng để nâng lên ở mức cao hơn- mức tâm linh. Đây là cách dẫn dắt tự nhiên, phù hợp với giác quan hữu hạn của con người khi tiếp cận với thế giới thần trí.

Diễm phúc của Đức Maria không chỉ dừng lại ở mẫu tính về thể lý của Mẹ đối với Chúa Giêsu mà quan trọng hơn, chính Mẹ là người có phúc “vì biết nghe và giữ lời Thiên Chúa”. Kinh nghiệm xin vâng của cả cuộc đời chính mình cũng chính là câu di chúc của Đức Maria để lại cho các Kitô hữu.

Rất kì lạ, nếu chúng ta cố gắng dùng 2 từ để tóm tắt lời di chúc của Đức Maria, thì đó là cụm từ xin vâng.

Xin vâng nghĩa là gì? Nghĩa là: một theo ý Cha đừng theo ý con; nghĩa là hình ảnh Ngài thì lớn lên còn hình ảnh con thì bé lại. Đạt tới trạng thái xin vâng đúng nghĩa là một quá trình, quá trình mà cái tôi của mỗi người phải tự hủy. Cũng vì lí do này, mà Thiên Chúa hay dùng những người khiêm hạ để là hoàn tất các công trình vĩ đại theo ý Ngài. Thánh Phaolô nói, nếu anh em có tự hào thì hãy tự hào trong Chúa.

Đức Maria bảo, “Ngài bảo gì các anh cứ làm theo”. Còn Chúa Giêsu lại ân cần mời gọi chúng ta: “"Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. . . Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng." (Mt 11, 29). Đây là 2 câu “thần chú” tuyệt vời mà mỗi chúng ta phải để nó thường trú trong tâm trí.

Thánh Don Bosco quả quyết: Hãy tin tưởng vào Mẹ Maria bạn sẽ thấy phép lạ là gì?

Di Chúc thứ 2. Này là con bà, . . . đây là mẹ con (Ga 19, 26)

(còn tiếp)

Thiên Chúa – Con Tim và Khôn Ngoan

G. Tuấn Anh

Các Kitô hữu tôn thờ Thánh Giá vì đó là con đường mà Thiên Chúa đã cứu chuộc nhân loại. Các Kitô hữu cũng thờ lạy Thánh Tâm vì đó là nơi xuất phát tình yêu. Thánh Giá và Thánh Tâm có quan hệ mật thiết với nhau, vì yêu thương con người quá đổi mà Ngài đã chọn Thánh Giá làm con đường cứu rỗi chúng ta.

Nhân dịp tháng Thánh Tâm Chúa Giêsu chúng ta cùng suy nghĩ về hai chủ đề: Thiên Chúa và con tim; sự khôn ngoan và đức tin.

Thiên Chúa và tấm lòng

Chữ “tim” trong tiếng Việt dùng mô tả đời sống tình cảm. Nếu mở rộng ý nghĩa, chữ “tim” còn hàm chứa kỷ niệm và hoài bão. Tim còn là nguồn gốc của nhân cách, ý thức. “Tim” và “tấm lòng” hàm chứa ý nghĩa gần nhau trong một ngữ cảnh.

Khi Thiên Chúa mời gọi con người bước đi cùng Ngài, Ngài mong muốn tấm lòng chúng ta đồng hành chứ không chỉ phải đôi chân và càng không phải là môi miệng. Những đoạn Tin mừng ngắn sau chứng minh cho khẳn định trên.

Khi nói về sự canh tân, Chúa Giêsu bảo dân Israel: “Hãy xé lòng chứ đừng xé áo”.

Lúc bàn về điều răn thứ nhất, Chúa Giêsu giải thích: “Hãy kính mến Chúa là Thiên Chúa của con hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết cả sức lực con”. (x. Mc 12, 28-30).

Khi quở trách một số người có lối sống giả hình, Ngài nhắc lại lời của tiên tri Isaia: “Dân này thờ ta bằng môi miệng, nhưng lòng chúng thì xa Ta" (Is 29,13).

Nhắc lại nguồn gốc của tội lỗi, Chúa Giêsu giải thích: “Anh em không hiểu rằng bất cứ cái gì vào miệng thì xuống bụng, rồi bị thải ra ngoài sao? Còn những cái gì từ miệng xuất ra, là phát xuất tự lòng, chính những cái ấy mới làm cho con người ra ô uế. Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế”  (Mt 15, 17)

Khi trình bày về tính khó nghèo và khiêm nhường Ngài yêu cầu các Kitô hữu cần khiêm nhường và khó nghèo trong lòng.

Kết luận phần này xin nhắc lại đoạn Tin Mừng, vì sự ăn năn thật lòng, mà người trộm bên phải đã được Chúa trả lời: “Hôm nay, anh sẽ ở cùng ta trên thiên đàng” (Lc 23, 42).

Sự khôn ngoan và đức tin

Francis Collins  là một nhà di truyền học hiện đại, giám đốc dự án giải mã gien người, một trong những nhà khoa học hàng đầu thế giới về AND, giáo sư tiến sĩ về sinh học phân tử. Trong sách “Ngôn ngữ của Chúa” đã chia sẻ hành trình từ một người không tin thành có đức tin. Một lần nọ, trong cơn bão tuyết, ông gặp một cụ bà đang đi dự lễ và hỏi: Bác chứng minh có Thiên Chúa đế thật không? Bà cụ trả lời ”Tôi không chứng minh được, nhưng ông có thể chứng mình, Thiên Chúa đế không tồn tại không?”. Là một nhà khoa học lớn, ông  suy nghĩ câu hỏi của cụ bà rất lâu. Ông nghĩ rằng, nếu tiếp cận với Thượng đế bằng lí trí thất bại, vậy hãy tiếp cận Ngài bằng con tim. Với cách tiếp cận mới, nhà di truyền đã tin và tìm gặp Thiên Chúa sau đó ít lâu.

Bàn về sự khôn ngoan (lý trí), thánh Phaolô chia thành 2 nhóm: khôn ngoan của loài người và  khôn ngoan của Thiên Chúa. Ngài viết  “Để nói về những điều đó, chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thần Khí; chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí” (1 Cr 2, 13).

Khôn ngoan loài người cũng được chia thành 2 hướng: theo hướng tốt, khôn ngoan được sử dụng để con người cư xử hiếu hòa với nhau để đạt thành công. Khôn ngoan còn là nhân tố để khoa học, kĩ thuật phát triển và tạo dựng nền văn mình loại người. Khôn ngoan theo hướng xấu là sự khôn ngoan dối trá, quỷ quyệt. Thánh Giacobê viết “Nhưng nếu trong lòng anh em có sự ghen tương, chua chát và tranh chấp, thì anh em đừng có tự cao tự đại mà nói dối, trái với sự thật. Sự khôn ngoan đó không phải từ trời cao ban xuống, nhưng là sự khôn ngoan của thế gian, của con người tự nhiên, của ma quỷ” (Gc 3, 15).

Sự khôn ngoan được linh hứng bao gồm cả ý nghĩa khôn ngoan theo hướng tốt, nhưng nó còn có ý nghĩa đặc trưng riêng mang tính tâm linh (thánh Giacôbê trình bày: trong anh em, ai là người khôn ngoan hiểu biết? Người ấy hãy dùng lối sống tốt đẹp mà chứng tỏ rằng: những hành động của họ phát xuất từ lòng hiền hậu và đức khôn ngoan (Gc 3, 13)). Sự khôn ngoan, hiểu biết mà ta lĩnh nhận trong bí tích thêm sức mang ý nghĩa này, nó cũng là ý mà Chúa Giêsu nói trong (Mt 6, 16) “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.

Tại sao dùng khôn ngoan, lý trí của loài người để khám phá Thiên Chúa thường bế tắc? Thánh Phaolô giải thích như sau: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được!” (Rm 11, 33). Và câu chuyện thánh Augustino, em bé và cái vỏ xò là một ví dụ.

Tại sao vua Salomon lại được Thiên Chúa chấp nhận khi van xin sự khôn ngoan? Vì đây là hồng ân dành cho Salomon, qua đó mọi người nhận ra quyền năng và tình yêu của Ngài.

Tại sao Thiên Chúa lại không  (hoặc ít khi) chọn lựa những người khôn ngoan để mạc khải về chính mình? Thánh Phaolo trả lời câu hỏi trên trong (1 Cr 1, 21) “Thật vậy, thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin.”.

Lý trí và đức tin không mâu thuẫn nhau, mà phụ thuộc vào cùng đích của người sử dụng lý trí. Đức Gioan Phaolô II nói như sau: “Đức tin và lý trí được ví như đôi cánh giúp tâm trí con người vươn cao lên trong sự chiêm nghiệm chân lý. Chính Thiên Chúa đã in đặt nơi tâm khảm con người ước vọng tìm biết chân lý để cuối cùng con người được nhận biết Thiên Chúa, ngõ hầu nhờ nhận biết và yêu mến Người, con người sẽ đạt thấu được sự thật về mình cách đầy đủ”.

Tin là đáp lại một tiếng gọi, tiếng gọi vượt khỏi các giới hạn của sự hiểu biết của con người, để dấn thân vào con đường mới, một thế giới mới. Và để tiến lên trên con đường ấy, con tim đóng vai trò chủ lực. Chúa Giêsu khi chọn Phêrô làm người đứng đầu giáo hội đã không yêu cầu vị giáo hoàng đầu tiên phải khôn ngoan, trí tuệ hơn các anh em, mà đỏi hỏi phải yêu mến Thầy vượt trội những người còn lại.

Lạy Chúa, dù chẳng xứng cũng xin ban cho con chút ít sự khôn ngoan như vua Salomon, lòng mến như mẹ Teresa Calcuta, để truyền rao danh Ngài.

Thịt Và Máu Cho Đời

Cuộc đời linh mục trong thế giới ngày nay

Linh mục Khất Tuệ

Trong 2 tuần qua, tôi đã gặp và trò chuyện với 8 linh mục, mà đã có tới 6 linh mục đại khái cho biết rằng: "Tôi chán đời linh mục lắm rồi!" hoặc "tôi mệt mỏi quá!" Một trong 6 vị này, là một người bạn khá thân với tôi, hiện đang giúp một giáo xứ khá lớn tại Munich, nước Đức, và đã tâm sự với tôi rằng, "bây giờ tớ muốn bỏ chức linh mục của tớ để sống như một người vô danh cho nhẹ lòng. Tớ không còn đủ sức đi tiếp nữa!" Từ khi gặp bạn tôi cho đến nay, tôi cứ đắm chìm trong suy nghĩ miên man, và là dịp cho tôi gẫm lại ơn gọi linh mục của chúng tôi cách sâu sa hơn. Thương cho người bạn linh mục của tôi, và thương cho tất cả linh mục trên thế gian này biết bao!

Đúng vậy. Linh mục ngày nay không còn được tôn trọng như xưa nữa. Điều này có lẽ ai cũng nhìn thấy, từ những vụ tai tiếng (scandal) về lạm dụng tình dục trẻ em trong thập niên gần đây. Đây là đề tài tế nhị và khó khăn cho những người linh mục chúng tôi. Mỗi lần đề tài này được đề cập đến, chúng tôi chỉ nhận những lời giận dữ và cay nghiệt từ những giáo dân hoặc những người ngoài Công giáo. Giận dữ không chỉ có ở nơi giáo dân, nhưng còn ở nhiều nhóm người nữa. Nạn nhân giận dữ với linh mục lạm dụng, linh mục giận dữ với giám mục của mình, thế rồi giám mục, linh mục giận dữ với giới truyền thông đại chúng, giáo dân hùng hổ chì chiết giáo xứ và cha xứ của họ, các tín đồ thuộc các tôn giáo khác bây giờ khinh miệt và chỉ trích Hội Thánh Công Giáo… Linh mục có còn được xem là người mang Tin Mừng cho thế giới nữa không? có là người mang Chúa đến cho mọi người nữa không? Tôi biết, có người sẽ trả lời là "không còn nữa," có người sẽ nói rằng "chỉ mang sự bất hạnh," còn người khác thì  thinh lặng, và rời bỏ Hội Thánh!

Đây là nỗi đau của chúng tôi, của chúng ta, của Hội Thánh Công giáo hoàn vũ. Tôi muốn bày tỏ lời xin lỗi, nhưng tôi là gì, là ai  mà dám "xin lỗi"? Đức Giáo Hoàng nói lời xin lỗi kia mà còn bị tấn công nữa là…! Dĩ nhiên ngôn từ không thể xóa được những vết thương hằn sâu trong lòng tín hữu, đặc biệt là các nạn nhân bị lạm dụng.

Chúng tôi cũng có vết thương. Đây là một vết thương cũng không nhỏ so với vết thương về thể lý và tâm lý nơi các nạn nhân. Vết thương của chúng tôi không chỉ nhức nhối sâu thẳm, nhưng còn trên bình diện chiều rộng nữa. Đặc biệt vết thương đang âm ỉ nơi những Hội Thánh của các quốc gia phát triển như Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương. Vết thương chúng tôi đau đớn nhất, là không những đối diện với sự khủng hoảng đức tin nơi các tín hữu, nhưng mà là khủng hoảng sự tín nhiệm đang lan tràn vào hàng giáo phẩm.

Giờ đây, chúng ta cùng nhau đối diện vấn đề, đó là sự lạm dụng tình dục trẻ em. Nói theo từ chuyên môn, đây là một căn bệnh ấu dâm (paedophilia). Thực vậy, khi nghiên cứu về bệnh lạm dụng tình dục (sexual abuse) nói chung nơi các nước Tây phương và Châu Mỹ, mà bệnh ấu dâm chỉ là một trong căn bệnh ấy, thì tỷ lệ là 1/5 (cứ 5 gia đình thì có 1 gia đình gặp phải việc lạm dụng tình dục). Và căn bệnh này đã có nơi mọi quốc gia theo bình diện rộng, từ khi con người đã xuất hiện trên mặt đất này. Lạm dụng tình dục được định nghĩa như là sự quấy nhiễu (molestation) hay ép buộc khơi dậy chức năng tính dục nơi người khác (không kể nam hay nữ đã trưởng thành, hay trẻ em). Sự quấy nhiễu này đã bao lâu chồng chất, và đến thời đại chúng ta, điều ấy đã nổ tung nơi giới giám mục và linh mục. Theo nghiên cứu thống kê, chỉ có 0.01 % ấu dâm nơi các linh mục và tu sĩ trong tổng số nạn ấu dâm. Như giọt nước làm tràn miệng ly, bây giờ giới linh mục là tấm bia cho mọi giận dữ và dồn nén từ bao đời đang nhắm vào. Thế giới đang nhìn vào một giọt nước ấy trong toàn bộ số nước trong cái ly ấy! Thật thế, nói một cách công minh, bệnh ấu dâm không phải là căn bệnh của giới độc thân, của giới đồng tính luyến ái, của người nam, hay của người nữ, hay của người đã lập gia đình. Căn bệnh này chỉ là căn bệnh như nó là (it is as it is), nó không chọn lựa đối tượng đặc thù, nhưng khi có điều kiện môi trường hay do bất trắc từ tâm lý thời ấu thơ, nó sẽ bộc lộ ra bên ngoài trong suy nghĩ hay qua hành vi. Cũng như người nghiện thuốc lá, nghiện rượu, nó vượt mọi biên giới, không phân biệt giới tính, độc thân hay có gia đình, đồng tính nam hay đồng tính nữ, giàu hay nghèo, trí thức hay không trí thức… Giáo sư Dan B. Allender và cũng là nhà trị liệu tâm lý Kitô giáo, là chuyên gia về việc lạm dụng tình dục, cho biết: "Người có căn bệnh lạm dụng tình dục trẻ em chỉ như một bức tranh mờ ảo mà không ai nhìn thấy được. Cho dù bạn có thể không nhìn thấy bức tranh đó trong vòng 30 năm, cho dù bạn có ngồi ăn uống với người ấy cả mấy chục năm qua, hay mới hôm qua, hay người ấy là người đóng vai trò ý nghĩa trong cuộc sống mỗi ngày của bạn, hay ngay cả người ấy đóng vai trò rất lớn trong mỗi ước mơ của bạn." Nhà trị liệu này cho biết, trong những cuộc khảo sát ngày nay về ấu dâm, những nạn nhân thông thường là muốn bảo vệ, hay phớt lờ kẻ đã gây ra cho mình, đặc biệt người gây ra ấy là một thành viên trong gia đình, hay những người thân cận. Những người thân gần gũi với nạn nhân là những người đang dưỡng nuôi hay trao ban họ sự an toàn (cha mẹ, anh chị em ruột…) mà họ đang rất cần những sự an toàn ấy. Cuộc nghiên cứu còn cho biết, hầu hết những nạn nhân nói ra chủ yếu là những nạn nhân không mấy thân thiết với kẻ lạm dụng (vì thế nếu kẻ lạm dụng đã nắm rõ cốt tủy trong tâm hồn nạn nhân thì nạn nhân không dám đối diện và tiết lộ). Chính vì thế, những người mà chúng ta đã từng nghe biết được chỉ là những người bên ngoài gia đình của nạn nhân, chỉ là người "dưng nước lã". Cho nên, nhiều nạn nhân bị từ người chú, người cậu mình gây ra thì thường nói rằng: "Ôi, ít ra họ không phải là anh tôi, hay tệ hơn là bố tôi." (The Wounded Heart: Hope for Adult Victims of Childhood Sexual Abuse, by Dr. Dan B. Allender, NavPress, 1990. Trang 52).

Vấn đề ấu dâm, chính là một trong những vấn đề trục trặc của tâm lý mà phân tâm học (psychanalyse) gọi là năng lực tình dục (Sigmund Freud gọi là Libido, là năng lực thúc đẩy dục tính bên trong, énergie de la pulsion sexuelle). Năng lực này có ở trong mỗi con người, và nếu được cân bằng, nó sẽ thúc đẩy con người hướng đến tình yêu, nếu không, tức là nó bị làm cho mất cân bằng hay bị gây cản trở, nó sẽ trở thành xung động rối loạn trong đáy nội tâm, như khối lửa âm ỷ trong lòng đất chờ thời cơ để phá tung tầng địa chất để phun ra. Xung động rối loạn này khi chưa bộc phát ra sẽ ở dạng dồn bí (gọi là refoulement), như quả bóng hơi nếu không lối thoát, chúng ta ấn dẹp phía này nó sẽ tìm chỗ yếu mềm khác để phình ra.

Tuy vậy, năng lực libido này không bao giờ ngồi yên, nó luôn tìm cách thúc đẩy nội tâm con người làm cho nó một lối thoát. Nó không hề biết đến văn hóa, quy luật xã hội, nó là tự nhiên, như cây cỏ phải tìm cach lớn lên hướng đến mặt trời. Nó sẽ được thoát ra theo hai dạng mà không có chủ trương phân biệt, được gọi là, thoát ra theo dạng thăng hoa (luân lý, đạo đức, văn hóa, quy luật xã hội con người chấp nhận) và thoát ra theo dạng méo mó (ngược lại với luân lý, đạo đức, quy luật…). Việc cho nó thoát ra đó, phụ thuộc vào ý chí con người, muốn cho nó thoát ra theo dạng nào. Chính vì thế, chúng ta thấy trên thế giới, xuất hiện những nhà khoa học đại tài như Albert Einstein, Newton, Marie Curie… hay gần nhất, đó là  thiên tài tâm lý trẻ nhất thế giới Andrew Almazan Anaya, thiên tài hạt nhân Mỹ Taylor Wilson, v.v… và đồng thời, chúng ta cũng thấy dạng thoát ra theo kiểu méo mó (theo cái nhìn của con người) như hiếp dâm, ấu dâm, giết người, nổi loạn, điên loạn… Theo phân tâm học, những con người trong bệnh viện tâm thần là những người dùng Libido theo dạng méo mó.

Mới đây, người ta đã công nhận nghiện rượu là một căn bệnh và tổ chức thành những hội nhóm của những người nghiện rượu để chia sẻ và hướng đến cai rượu. Người ta cũng khám phá được rằng những người nghiện rượu có sự mặc cảm bệnh hoạn của bản thân mình. Ý chí của họ không đủ mạnh để cai rượu, đặc biệt khi họ bị những người xung quanh khinh miệt và chỉ trích (như ép quả bóng hơi trong họ). Chúng ta đã chứng kiến quá nhiều các trường hợp tự tử ngày nay, mỗi lúc một phổ biến trên thế giới, hầu hết là do libido bị dồn bí. Họ chẳng thăng hoa được (thực sự họ có thể thăng hoa) cũng như chẳng thoát ra chỗ nào được (dồn ép và bế tắc, vì văn hóa, luật lệ, luân lý, đạo đức của con người ngăn cấm). Tôi được biết có một anh chàng 50 tuổi, đã nghiện rượu từ lúc 17 tuổi. Anh ta hoàn toàn ý thức là không nên uống rượu nữa. Nhưng anh ta có thể bỏ rượu được, nhưng không quá 3 ngày, và cứ thế lại uống lại. Điều này xảy ra cho đến tuổi 55. Có nhiều lần, anh ta nôn ra máu vì xuất huyết bao tử. Nhưng sau khi điều trị khỏi, anh ta lại lén lút tìm đến với rượu. Cuối cùng, anh ta chết ngay trên lề đường khi ra khỏi quán rượu.

Cũng như kẻ nghiện rượu, những người lạm dụng tình dục, như một số linh mục ấu dâm chẳng hạn, đã rất chân thành nói rằng: "Vâng, tôi sẽ không tái phạm nữa." Thế nhưng, căn bệnh ấu dâm không cần biết ất giáp gì tất, nó vẫn thúc đẩy nơi con người phải thỏa mãn nó. Tôi đã hỏi anh chàng nghiện rượu trên, "tại sao anh không thể bỏ rượu được cơ chứ?" "Anh biết là nó đang làm hại anh không?" Vâng! Anh ta biết rõ hơn cả tôi. Rồi đến khi anh ta gục ngã và chết trên lề đường, tay làm rớt chai rượu đế rẻ tiền, không ai đoái hoài đến anh, vì họ biết quá rõ anh ta là anh chàng nghiện rượu.

Tự nhiên, tôi cảm thấy rất hối hận!

Trở lại căn bệnh ấu dâm, ai cũng nhìn nhận rằng, đây là căn bệnh gây hậu quả rất lớn cho trẻ thơ, vì căn bệnh này kéo theo mọi phiền lụy sau này đứa trẻ ấy. Châm ngôn xưa nói rằng, mọi kẻ lạm dụng đều là những nạn nhân trước kia đã từng bị lạm dụng. Cuộc nghiên cứu gần đây cho biết, sự lôi cuốn đi đến việc lạm dụng trẻ em là không phải muốn thỏa mãn tính dục nơi bản thân bệnh nhân, nhưng mà là sự xoay sở và giải quyết chấn thương thời ấu thơ của họ mà họ đã từng bị lạm dụng. Căn bệnh ấu dâm từ người khác mà ngày xưa họ đã gặp phải đã lấy đi tuổi thơ trong họ. Cuộc nghiên cứu về tâm lý học ngày nay cho thấy, 80% nguyên nhân dẫn đến tự tử nơi thiếu niên ở các nước Phương tây là do bị lạm dụng tình dục khi họ còn là trẻ thơ. Ngạc nhiên hơn, những vụ tử tử nơi người lớn đang diễn ra từ xưa tới giờ cũng liên hệ mật thiết với sự ấu dâm mà họ đã từng là nạn nhân. Việc lạm dụng tình dục (trong đó có nạn ấu dâm) gây ra một vết thương rất sâu và lâu dài nơi nạn nhân. Và cứ thế, nạn nhân nối tiếp nạn nhân. Tôi cũng dám cho rằng, hình như từ khi con người xuất hiện trên mặt đất này cho đến nay, vì năng lực tình dục (libido) xuất hiện khi con người bắt đầu từ khi trứng và tinh trùng "gặp nhau" để từ đó lớn lên trong dạ mẹ.

Đến đây, chúng ta cùng suy nghĩ thêm, vậy liệu chúng ta có thể chấm dứt chuyện ấu dâm? hay, liệu chúng ta làm sao để chấm dứt tình trạng lạm dụng tình dục theo nghĩa rộng như hiếp dâm, bạo lực trong gia đình, bạo dâm, khổ dâm, ấu dâm, ái lão (hướng tình dục mình đến người già), ái vật (hướng đến đồ vật), ái tử thi (hướng đến xác chết)…? Theo tôi, không đơn giản. Vâng, không đơn giản chút nào!

***

Trong suy tư về thiên chức linh mục ngày nay, cũng như cuộc sống tâm linh Kitô hữu giữa những biến chuyển nhanh chóng về nhiều mặt của thế giới, chúng ta cùng nhau hướng đến Thánh Tâm Chúa Giêsu, nguồn mạch tình yêu và chữa lành.

Không phải điều gì trên cuộc đời này đều cũng có thể sửa đổi hoặc chữa lành được. Có những căn bệnh ung thư mà thời nay chỉ bó tay. Có những vết sẹo mà chúng ta không thể tẩy xóa được. Cũng vậy, tai tiếng vấn đề ấu dâm là một vết thương, vết sẹo cho những nạn nhân, nếu không muốn nói là một vết thương không bao giờ lành hoàn toàn. Vết thương ấy không phải lưu lại nơi hàng giáo phẩm như chúng ta đã từng nghe hoặc biết đến, nhưng cũng lưu lại nơi rất nhiều nạn nhân (ngoài giới linh mục) mà không thể nào biết được (vì phần đông không thể bộc lộ), không chỉ Âu Châu, Mỹ Châu, nhưng khắp nơi trên thế giới, từ trong những ngõ hẻm hoang vắng cho đến những thành thị nhộn nhịp to lớn. Vết thương này, hay khá hơn nữa là vết sẹo này không phân biệt màu da, quốc tịch, giai cấp, phái tính, tính tình, học vấn… Nó có mặt mọi nơi, mọi thời! Đây là "những dấu chỉ của những thời đại" mà Chúa Giêsu luôn mời gọi con cái Ngài ngày nay đọc ra. Ngài muốn nói gì với chúng ta qua những dấu chỉ ấy? Dấu chỉ xem ra gây cho con người, đặc biệt là linh mục ngày nay, thật là hổ nhục, đáng phỉ báng. Thế nhưng, Chúa Giêsu vẫn luôn tìm cách chữa lành con người chúng ta. Trọn cả sách Tin Mừng, Chúa Giêsu chủ yếu ra đi để chữa lành con người đui mù, què quặt, câm điếc, cùi hủi, điên dại, mất trí, mất phẩm giá, bị tẩy chay… Chúng ta chỉ có thể được chữa lành khi chúng ta CAN ĐẢM hướng đến Chúa Giêsu, hơn là quay trở về lại trong con người chúng ta.

Nếu chúng ta là Kitô hữu, có nghĩa là mọi người chúng ta được mời gọi phản chiếu lòng thương xót của Chúa Giêsu. Chắc chắn chúng ta đã nghe điều này nhiều lần và thậm chí đến nỗi trở nên quen thuộc và nhàm chán. Vâng! tình thương và lòng thương xót của Chúa không bao giờ xưa cũ, lúc nào cũng mới mẻ. Cũng như mọi tội nhân trở lại cùng Ngài đều là những người con như mới sinh ra mà luôn làm Ngài vui sướng. Vì thế, chúng ta, là những linh mục của Chúa, hãy nhẫn nại, không ngừng phản chiếu lòng thương xót, nhất là đối với những nạn nhân bị lạm dụng cũng như những nạn nhân gây ra vết thương.

Hãy can đảm mang vào trong thịt và máu chúng ta những vết thương cũng như vết sẹo của tha nhân và của chính mình. Trước giận dữ của tha nhân, người linh mục hãy trao hiền hòa; trước sự cay nghiệt của tha nhân, người linh mục hãy bao dung; trước những hiểu lầm của tha nhân, người linh mục hãy thấu hiểu; trước những nóng nảy của tha nhân, người linh mục hãy kiên nhẫn; trước phỉ báng của tha nhân, linh mục hãy xót thương. Lòng xót thương trước tình trạng ấu dâm chính là dấu chỉ mà Chúa đang muốn linh mục chúng ta ngày nay thực thi. Mỗi thời đại có một dấu chỉ nào đó mà Chúa muốn nhắn gửi cho thế gian và cho các mục tử. Và căn bệnh ấu dâm ngày nay cũng là một trong nhiều dấu chỉ khác trong quá khứ hay ở tương lai sau này, để nói cho chúng ta biết thêm nữa về lòng thương xót của Chúa, lòng thương xót của Ngài rất lâu đời nhưng cũng rất mới mẻ, mà con người không thể học biết trọn nghĩa "thương xót" của Ngài nổi! Vì "thương xót" của con người thì giới hạn, còn của Ngài thì vô hạn. Cõi hữu hạn thì không bao giờ hiểu được cõi vô hạn.

Vậy, liệu linh mục chúng ta có thể tiếp tục vẫn trao tặng tình yêu, trao ban lòng thấu cảm đến đoàn chiên mình nữa không, một khi tình yêu của người linh mục chúng ta đã bị xem là hoen úa và nhơ bẩn?

Chúng ta thường chôn vùi chính chúng ta, hay chúng ta sẽ không còn niềm hy vọng nào nữa khi đối diện với những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Đặc biệt là nạn ấu dâm ngày nay, chúng ta không chấp nhận chúng ta, nên gây ra sự tàn bạo và nhẫn tâm khi xét xử nhau. Chúng ta không cùng chung với nhau để giúp nhau để hát lên bài ca mới "Alleluia" hay "Tạ ơn Chúa". Chúng ta, thay vì hướng đến Thánh Tâm Chúa - Thánh Tâm vô tội mà từng bị đâm thủng, máu và nước chảy ra - thì ngược lại, chúng ta quay về lại với chính mình, để chui vào tháp ngà phòng vệ, chui vào phòng đóng kín cửa tìm chút an toàn cho bản thân, để rồi chính chúng ta cũng như tha nhân (trong số đó có những nạn nhân) vẫn nhìn nhau trong một khoảng cách. Chúng ta cùng nhau lên án cách cuồng loạn. Rồi cuối cùng nhìn lại, thực sự, chẳng biết chúng ta đang lên án ai, và chẳng biết chính xác rằng chính mình muốn gì nữa!

Linh mục chúng ta hãy ôm lấy những vết thương của nhân loại, mang vào trong thịt và máu mình những khủng hoảng từ nạn ấu dâm thời đại, như linh mục Henri Nouwen, một lần nọ đã nói lên rằng: "Đã bao năm trời qua, tôi rất khó chịu về những điều làm tôi chia trí không thể tập trung vào công việc tôi được, cho đến khi tôi nhận ra rằng những điều gây chia trí ấy, gây phiền toái ấy mới chính là công việc thật sự của tôi." Vì thế, chính những điều mà làm linh mục chúng ta lấy làm khó chịu, hay làm cho chúng ta không thể tập trung được vào công việc mà chúng ta đang lên kế hoạch, đang thực hiện, là chính công việc mục vụ của chúng ta, cụ thể là nạn ấu dâm qua sự phỉ báng, giận dữ, kết án, kiện tụng… Hội Thánh tồn tại là để cho thế gian (thế giới của xác phàm tục lụy), chứ không phải thế gian tồn tại là cho Hội Thánh. Chúa Giêsu đã nói: "Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống" (Ga 6,51), chứ Người không nói: "…để cho Hội Thánh được sống." Thực thế, Chúa Giêsu đến là để, không phải chỉ theo nghĩa cao siêu là rước lấy Người dưới hình bánh và rượu, nhưng là cho thế gian ăn thịt và máu Người theo nghĩa đen nữa, đó là thế gian đã bắt Người, đay nghiến Người, dày vò Người và giết chết Người. Ngôi Lời là Thiên Chúa, đã khởi sự việc trao hiến cho thế gian bằng cách xuống Chúa Giêsu sinh ra trong máng bò lừa, nơi mà để thức ăn cho súc vật ăn khi đói và kết thúc cuộc đời mình trên bàn tiệc (là bữa tiệc ly: "Này là Mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn đi, này là Máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống đi") và trên thập giá cho thế gian.

Linh mục của Chúa Giêsu cũng thế, không thể khác được. Lời tha thiết của Chúa Giêsu mỗi ngày trong Thánh Lễ mà linh mục dâng, vẫn nhắc nhở chính đời sống linh mục của chúng ta: "Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy." Lời trăn trối của Chúa Giêsu, Linh Mục Thượng Phẩm, cho mỗi người linh mục chúng ta, sẽ là châm ngôn sống cho bản thân chúng ta, khi chúng ta không những trao tặng Mình và Máu Thánh của Người để cho thế gian được sống trên bàn tiệc Thánh, mà chúng ta, đang mang căn tính linh mục không bao giờ phai nhòa, còn tiếp tục dâng hiến chính thịt và máu huyết của mình cho bàn tiệc thế gian, để trở nên giống như Chúa Giêsu Linh Mục Thượng Phẩm: " Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống," và Chúa Giêsu còn nhấn mạnh thêm nữa: " vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống" (Ga 6,55).

Nếu qua lăng kính xác thịt của con người, vấn nạn ấu dâm nơi các linh mục, dù chỉ là con số dưới 1%  trong toàn thể những nạn lạm dụng tình dục trên thế gian này, là một nỗi ô nhục và cay đắng của chúng ta. Thế nhưng, khi linh mục chúng ta nhìn sự kiện này qua cái nhìn của Chúa Giêsu, thì chúng ta sẽ không lấy làm lạ khi chúng ta đang bị thế gian chỉa mũi dùi vào chúng ta và những hội thánh địa phương như Đức, Ai Len, Pháp, Ý, Mỹ, Canada, Úc… hay Hội Thánh hoàn vũ đi nữa. Dù chỉ dưới 1% nơi linh mục chúng ta so với toàn thể các trường hợp lạm dụng tính dục trên thế giới, ban điều hành trong giới truyền thanh truyền hình, nhà báo, mạng network đã "chiếu cố" trước tiên về vấn nạn của một số linh mục chúng ta và vì thế linh mục chúng ta "được" in nổi bật với highlight trên trang nhất tờ báo, hay trên những kênh truyền hình phổ thông và nổi tiếng của thế giới như đài CNN, BBC, CBC,... cùng với các kênh của Tin Lành, Hồi giáo... rải rác khắp nơi trên thế giới.

 Những anh em linh mục chúng ta hãy can đảm, ra khỏi chính mình, khỏi tháp ngà phòng vệ, cho thế gian ăn thịt và máu của mình. Chúng ta hãy trở nên "thịt cho thế gian được sống." Nếu như cha Henri Nouwen nói rằng, "chính những điều làm tôi khó chịu, đau đớn, ngoài ý muốn của tôi,  là công việc đích thật của tôi." Vâng! Chỉ với những sự khó chịu và đau đớn trong đời linh mục, mới có thể gọt dũa bản thân chúng ta và làm cho chúng ta thêm khiêm cung và nhỏ bé xinh xắn. Không gì đau đớn hơn khi chúng ta bị thế gian kéo xuống tận vực thẳm và rồi, thịt và máu của chúng ta, cũng bị chia cắt và bị ăn. Linh Mục Thượng Phẩm còn là con người nữa không, khi Người bị lột sạch mảnh vải che thân và trần trụi giữa thế gian? Linh Mục Thượng Phẩm còn có phẩm giá nào nữa không, khi bị đeo nhiều gai nhọn cắm vào đầu, vốn tượng trưng cho Trí Tuệ và Khôn Ngoan, và mà tự lê lết để kéo thân xác đang tan nát gồm Thịt và Máu, qua hàng ngàn con mắt khinh khi và nhạo báng? Linh Mục Thượng Phẩm đã trở thành một tên tử tội hạ phẩm cho thế gian được sống! Chỉ khi linh mục chúng ta bị phỉ báng và treo lên như thế, chúng ta mới có thể ban tặng lương thực cho thế gian được sống, vì qua thịt máu của linh mục chúng ta, thế gian mới có thể tiếp cận và cảm nhận được Thịt Máu của Linh Mục Thượng Phẩm. Nếu chúng ta phản kháng, tự vệ, tranh đấu, chúng ta sẽ không thể cứu được thế gian. Linh Mục Thượng Phẩm của chúng ta không làm thế! Thầy của chúng ta đã "uống cạn chén đắng." Vậy, chính khi chúng ta sạt nghiệp trắng tay, trí tuệ và khôn ngoan sau hàng chục năm vùi đầu trong triết học thần học bị phỉ báng và thách thức, những công trình sứ vụ của chúng ta bị sụp đổ hòan toàn, cũng chính là lúc chúng ta sẽ thực sự hiến dâng "thịt và máu cho thế gian được sống."   

Linh mục chúng ta đã được ưu đãi quá nhiều, trong thời gian quá lâu. Chúng ta đã từng được cung kính, được đưa rước, được tung hô. Linh mục chúng ta thường tốt với người tốt, yêu những người yêu chúng ta, vậy nào ích gì? Chúng ta có dám đi xa hơn một chút không? Đó là có dám tha thứ những người không muốn tha thứ cho chúng ta không? đó là có dám thương những người ghét bỏ và xa lánh chúng ta không?

Vâng! Hình như, chúng ta đã từng đi quá xa và không cùng trên con đường của Linh Mục Thượng Phẩm. Đã đến lúc, chúng ta cần được thanh tẩy, gọt dũa để chúng ta trở nên khiêm hạ. Linh Mục Thượng Phẩm của chúng ta không những khiêm hạ, nhưng mà còn chịu bị hạ nhục nữa. Khi đã đi quá xa, chúng ta cần một cú đánh mạnh, chứ không phải đánh vừa, thì mọi hành trang cồng kềnh của chúng ta mới có thể rơi xuống, để chúng ta có thể nhẹ nhàng tiến nhanh kịp với Linh Mục Thượng Phẩm.

Chỉ khi Thân Thể của Chúa Kitô bị hạ nhục (Thân Thể Người là Hội Thánh), Người mới có thể cứu thế gian. Linh mục chúng ta cũng như vậy, khi chúng ta bị xuống thấp, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, chúng ta sẽ trở về nơi mà chúng ta từ đó sinh ra, đó là bụi đất. Chỉ khi chúng ta trở về bụi đất, chúng ta mới có thể sống gần với những gì là thấp bé, đó là những con người nghèo khổ, những người bị xã hội tẩy chay, những người già cả, bệnh tật... Vụ tai tiếng và sự khinh miệt của thế gian sẽ là cơ hội giúp chúng ta trở thành như thế. Gần bụi đất, trở thành bụi đất, là chúng ta gần và trở thành như những kẻ bị loại ra ngoài xã hội. Chúng ta nên nhớ rằng, Linh Mục Thượng Phẩm của chúng ta bị treo trần trụi giữa hai tên trộm cướp. Dưới con mắt thế gian, Linh Mục ấy bị xếp vào nhóm trộm cướp. Điều độc đáo là, dù Linh Mục Thượng Phẩm vô tỳ tích, nhưng Người vẫn không phản đối hay lý lẽ. Người chấp nhận bản tử hình theo sự xét xử và phỉ báng của thế gian.

Khi linh mục chúng ta bị phỉ báng và khinh miệt, việc nhập thể của Đức Kitô đang tiếp diễn. Chúng ta hãy để cho việc nhập thể của Người nơi chúng ta có cơ hội để nuôi sống thế gian qua thịt và máu chính chúng ta. Để cho việc nhập thể của Người được diễn ra, chúng ta không thể hát bài ca cũ được, bài ca mà xưa kia kinh sư, Pharisêu đã từng ca hát: Mắt đền mắt, răng đền răng, ác giả ác báo, và Người đã cho biết: Nếu sống như thế thì sẽ chẳng được vào Nước Trời (Mt 5,20-26). Chúa Giêsu không muốn chúng ta sống theo kiểu công bằng toán học của xã hội như thế. Vì nếu Người muốn chúng ta sống công bằng kiểu đó, thì Người đã không phải chết nhục nhã và cô đơn một cách xem ra thật nghịch lý. Vậy, theo như Người mời gọi, chúng ta có dám "bỏ của lễ trước bàn thờ" để đến với anh chị em chúng ta không? Chúng ta có dám bán hết gia tài để nuôi sống anh chị em chúng ta không? Chúng ta có dám vươn rộng đôi tay để đến với những người mà cũng sẽ làm chúng ta thêm khó chịu không? anh chị em là những nạn nhân, những linh mục gây thương tích cho họ, bề dưới của chúng ta, bề trên của chúng ta, thầy của chúng ta..., họ là những người đang cần ăn thịt và uống máu của chúng ta. Hơn lúc nào hết, chính vụ ấu dâm này, hay những vụ tương tự như thế, là một bài toán khá hóc búa về sự nghịch lý trong Kitô giáo mà Linh Mục Thượng Phẩm đang gửi đến các linh mục chúng ta. Chúng ta có dám liều để đón nhận bài toán đó và giải cho đến cuối cùng đời ta không? Và, cũng dám nói rằng, Linh Mục Thượng Phẩm có thể sau này còn tung ra thêm nhiều bài toán hóc búa khác nữa cho các linh mục chúng ta chăng???

Rất mong sao, linh mục chúng ta vẫn đứng thẳng, cho dù ngày mai sẽ như thế nào. Hai hình ảnh mà có lẽ Hội Thánh chúng ta không thể nào quên được khi cử hành ngày Thứ Sáu Tuần Thánh (Holy Friday), đó là Mẹ Maria, và Đức Giêsu, là Linh Mục Thượng Phẩm. Thứ Sáu Thánh là Thứ Sáu Linh Mục Giêsu chịu đau đớn và chết. Chính sự đau đớn và sự chết đó, được gọi là thánh (Friday is Holy). Thánh, là vì hai vị ấy không thể hiện những suy nghĩ và thái độ theo thế gian, nhưng theo nghịch lý của Tin Mừng: Thinh Lặng trước nỗi đau.

Mẹ Maria dưới cây thánh giá. Rất đau đớn. Nhưng Mẹ thinh lặng. Mẹ không phản đối rằng Con của Mẹ không có tội tình gì mà lại..., Mẹ không đặt câu hỏi tại sao. Mẹ không đay nghiến hay mắt đền mắt, răng đền răng. Mẹ chẳng nói gì. Chỉ thinh lặng, đứng nhìn. Theo truyền thống Do Thái, đứng là của tư thế mạnh mẽ. Vâng! Mẹ Maria đã mạnh mẽ dưới chân thánh giá, thinh lặng. Linh mục chúng ta hãy mạnh mẽ, trong thinh lặng, nhất là trước nỗi đau tột cùng của "sự chết".

Nếu Mẹ Maria đứng thinh lặng dưới chân thánh giá, thì Con của Mẹ là toát mồ hôi máu. Cả hai đều thinh lặng trước sự ứng xử của thế gian. Linh mục chúng ta đứng trước những xét xử của thế gian, cứ hãy đối diện với những hiềm khích, khinh miệt, chối bỏ của thế gian. Trong nỗi đau cùng cực, chúng ta có thể thốt lên như Linh Mục Thượng Phẩm của chúng ta: "Sao Cha bỏ con?"

Chúng ta biết chắc chắn rằng, Cha không thể bỏ chúng ta, nhất là những linh mục mỏng dòn của Ngài. Nhưng trong sự cùng cực, chúng ta thậm chí không thấy Cha đâu nữa. Chúng ta vẫn đứng và thinh lặng. Chúng ta sẽ cảm nhận được nguồn năng lượng yêu thương, bình an và chữa lành. Phải chấp nhận đi qua bóng đêm, thì mới nhìn thấy được ánh sáng ban mai. Sau việc đóng đinh là sự sống lại.

***

Chúng ta là những linh mục, theo tôi, cho dù có như thế nào, tôi vẫn yêu quý mãi ơn gọi linh mục, và kính phục linh mục. Linh mục chúng ta rất trần gian, nên sao mà đáng yêu thế! Linh mục chúng ta cũng rất nhiệm mầu, mãi mãi không thể hiểu thấu được, vì chỉ phán một lời, Thịt và Máu của Linh Mục Thượng Phẩm có ngay trước mặt chúng ta và sẻ chia cho thế gian (người thế gian này có thể tốn bao nhiêu tiền, bao nhiêu sức lực... để mời một vị tổng thống đến nước mình; còn linh mục, chỉ nói một lời, Chúa Tể Trời Đất đã có ngay trước mặt, Ngài đến không huyênh hoang, không trịnh thượng, không gây khó dễ, ai gặp Ngài cũng được. Ngài thật tuyệt vời!).

Chúa đang làm mọi sự theo ý Ngài muốn, và Chúa vẫn đang làm, còn làm như thế nào, ra sao, thì chỉ có Ngài mới biết. Nhưng chắc chắn một điều rằng, Ngài không bao giờ để Hội Thánh Ngài phải chết.

Linh mục chúng mình cùng xác tín như thế nhé! Amen.

Lễ Thánh Tâm Chúa - 2013

Bạn nghĩ gì khi nhận Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu ?

G. Tuấn Anh

Thân thể Đức Kitô bao hàm nhiều ý nghĩa: hoặc dùng để chỉ Thánh Thể Người hoặc để chỉ Thân Mình của Giáo hội, trong đó Chúa Kitô là đầu mà chúng ta là chi thể. Bài viết ngắn này xin trình bày ý nghĩa thứ hai. Bài viết mong muốn mỗi chúng ta nhận thức lại khi đón nhận Bí tích Thánh Thể.

Đặc tính con người là nhục thể, Thiên Chúa là Thần khí. Khi nhập thể làm người, Chúa Giêsu đã chia sẻ đời sống nhục thể như loài người. Khi Đức Kitô chịu nạn, chịu chết trên thập giá, Tin Mừng đã trình bày cái chết thể lý của Đức Giêsu. Tuy vậy mầu nhiệm cứu chuộc vẫn chưa dừng ngay sự chết, mà nó còn tiếp tục bởi sự phục sinh của Đức Kitô, một sự sống lại bằng xương, bằng thịt. Nhưng thân thể Đức Kitô trước và sau cuộc tử nạn là khác nhau, trước đó là thân thể huyết khí, sau đó là thân thể thần thiêng.

Khi tham dự thánh lễ, Thiên Chúa không chỉ mời gọi chúng ta nhớ lại tình yêu của Ngài với đỉnh cao là cuộc khổ nạn, mà còn kêu gọi chúng ta thông phần vào cuộc khổ nạn ấy, nghĩa là “hãy đi và chết cùng người”. Nhớ lại cuộc khổ nạn của Chúa trong từng ngày thì tốt, nhưng dám hiến thân mình để cùng chết như Ngài thì tốt hơn nhiều. Đây là cách hữu hiệu nhất để tuyên xưng và loan truyền việc Chúa chịu chết và phục sinh.

Có người nói rằng: người Công giáo tin, nhưng không thực hành như niềm tin của mình. Chúng ta cùng nghiệm lại bản thân với câu nói trên?

Chúng ta rất dễ chọn lựa một bữa tiệc rượu thịt hơn là bữa tiệc Mình-Máu Chúa, mặc dù  miệng vẫn đọc “phúc cho ai được mời dự tiệc chiên Thiên Chúa”. Chúng ta có thể tham dự, tưởng nhớ cuộc tử nạn của Đức Kitô hàng ngày nhưng bản thân thì chẳng chịu vác thánh giá lên đồi Gongotha, và từ chối đóng đinh xác thịt chính mình. Chúng ta luôn miệng cầu xin đức tin nhưng ít thực hành đức tin.

Khi nhận Mình và Máu Chúa, chính Ngài muốn dùng Mình và Máu Con Chiên để biến máu huyết chúng ta cùng một máu huyết với Ngài. Như vậy, máu huyết của nhục thể của mỗi cá thể lúc nhận lãnh sẽ nhường chỗ cho máu huyết của thần khí.

Khi nói Mình và Máu Chúa là lương thực nuôi dưỡng tâm linh, thì lương thực ấy không chỉ dừng lại để nuôi phần tâm linh chỉ sống ở mức tồn tại, mà Thiên Chúa muốn, nguồn lương thực ấy nuôi dưỡng chúng ta ngày càng lớn lên và giống hình ảnh của Ngài theo thời gian.

Bí tích Thánh thể là nguồn mạch nuôi dưỡng giáo hội mà các chi thể là các Kitô hữu. Nếu chúng ta tách rời ra khỏi Thiên Chúa thì nguồn mạch nuôi sống phần thần khí bị mất đi trong con người, như thể cành cây lìa khỏi thân cây. Về ý này Chúa Giêsu bảo Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì.” (Ga 15, 5)

Khi nhận thức chúng ta cùng là chi thể của Đức Kitô nhờ nhận lãnh Mình và Máu của Ngài, chúng ta cũng nhận ra rằng, các Kitô hữu là anh em nhau, nên tinh thần yêu thương và hiệp nhất giữa các Kitô hữu vì thế cũng sáng tỏ và dễ hiểu.

Nhờ Mình- Máu Chúa nuôi dưỡng, phần siêu nhiên trong thân thể con người ngày càng lớn mạnh, đồng nhĩa với phần nhục thể ngày một nhỏ đi, do đó thân thể chúng ta xứng đáng trở thành đền thờ của Thiên Chúa.

Thánh Lêô cả nói “Sự thông phần vào Mình và Máu Chúa Kitô không gì khác hơn là biến chúng ta thành điều mà chúng ta nhận lãnh”. Còn thánh Cirilô thành Giêrusalem cho rằng “Nhờ Thánh Thể, chúng ta thành đồng thân thể và máu huyết với Chúa Kitô”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu sâu sắc Bí tích Thánh Thể- bí tích của tình yêu để biết đáp lại cũng bằng một tình yêu.

Xin vâng và bản ngã

G. Tuấn Anh.

Nếu chúng ta đi tìm một khuôn mẫu về đức tin vào Thiên Chúa, thì Đức Mẹ Maria là một mẫu gương sống động và viên mãn. Đức Maria có những ưu thế mà không một tạo vật trên trần thế có được. Đó là diễm phúc: Được Thiên Chúa tuyển chọn và truyền tin; Được sống cùng với Chúa Giêsu 33 năm, trong vai trò là thân mẫu của Ngài. Dân gian ta có câu nói: không ai hiểu con bằng mẹ.

Viết về Đức Maria, chúng ta hay nghiêng về những đặc ân của Mẹ, trong khi đó sự cao trọng của một thụ tạo được đong đếm bởi những gì mà Thiên Chúa mong mỏi hơn là những gì mà Ngài đã ban phát. Và Mẹ Maria cũng không là ngoại lệ, Mẹ vẫn theo qui luật, nếu hạt lúa không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình thôi. Đức Maria dù không phải là tác giả, nhưng lại thực hành câu nói của tác giả Tôma: "Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy! " (Ga 11, 16).

Thập giá được xem như là tiêu chuẩn để con người được bước từ thế giới nhục thể sang thế giới siêu nhiên, từ cuôc sống hữu hạn đến cuộc sống viên mãn. Chuyển tiếp giữa hai thế giới khác biệt này, chúng ta cần có một giải pháp thật  mạnh mẽ (giải pháp thánh giá), quyết liệt và có tính khắc nghiệt, khó khăn dưới cách suy nghĩ của trần tục.

Đức tin là xin vâng

Chúng ta vẫn nói Abraham là “cha các kẻ tin”, vì tổ phụ đã dám từ bỏ tất cả để đi đến vùng đất chưa hề biết, mà Thiên Chúa đã hứa. Hơn nữa, tổ phụ đã vâng lời hiến tế (nhưng chỉ là thử thách) người con duy nhất của mình  cho Thiên Chúa. Nhưng Đức Maria còn hơn thế, hơn rất nhiều. Mẹ cũng để Thiên Chúa dẫn dắt chính cuộc đời mình. Từ hang đá Belem-nơi sinh ra Đấng Cứu Chuộc, chạy trốn qua Ai cập, về miền Nazaret và cùng lên núi sọ để chứng kiến lễ hiến tế, không chỉ hiến tế thật mà còn hiến tế rất khủng khiếp, rất đau đớn, rất tủi nhục, người con của mình. Tất cả hành trình thập giá ấy được bắt đầu từ 02 chữ xin vâng.

Xin vâng là cụm từ diễn tả xúc tích nhưng sâu xa về đức tin của một Kitô hữu.

Một chuyên gia về quản trị kinh doanh nói rằng, đức tin Công giáo nếu được biểu diễn bằng một hàm rủi ro, thì trị rủi ra của nó quá cao, cao hơn rất nhiều so với những ai tham gia thị trường chứng khoán, bất động sản. . .Nhưng hơn 1 tỷ người trên thế giới vẫn tin vào hàm rủi ro ấy vì kì vọng. Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn, đây là một qui luật. Xem chừng kì vọng ấy phải là 100%. Và đức tin Công giáo đem lại cho Kitô hữu niềm vui to lớn, nhưng không phải ở cuộc sống đời nay, mà  chính là cuộc sống sau cái chết. Nó trở nên xa lạ, khó hiểu thậm chí kỳ quặc cho nhưng ai mang nặng tư duy trần thế hoặc duy lý.

Xin vâng, chúng ta hay dùng từ này để nói về Đức Maria khi Mẹ trả lời cho thiên sứ truyền tin Gabriel. Môt câu hỏi tuy đơn giản nhưng vẫn cần đặt ra là, xin vâng theo nghĩa như thế nào? Trong Tân ước, chính Chúa Giêsu phân tích cụm từ xin vâng này bằng câu nói rất nổi tiếng trong Luca (22, 42) "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà vâng theo ý Cha."

Đức tin có thể tạm chia thành hai mức độ. Mức độ thứ nhất chúng ta tin rằng Đức Giêsu làm được và chắc chắn sẽ làm. Mức cao hơn lại tin rằng, Ngài làm được nhưng Ngài có thể không làm vì ý định của Thiên Chúa thì sâu xa, vượt quá khỏi tư duy nhục thể, thiển cận của con người. Nhưng đức tin xác tín rằng, Ngài sẽ thực hiện cho chúng ta theo con đường tốt nhất vì tính toàn cục và quan trọng hơn là vì cuộc sống đời sau,. Về chuyện này, chúng ta có thể có hai so sánh đơn giản như sau về tính toàn cục: một võ sinh đai trắng sẽ không hiểu được tại sao người thầy Karatedo cứ buộc mình phải đứng tấn hàng giờ và qua nhiều tháng. Hoặc một người con sẽ lấy làm khó hiểu khi cha mẹ cứ bắt mỗi ngày phải giải hết 05 bài toán đố từ lúc lớp 1 đến lớp 5.

Xin vâng là từ bỏ bản ngã

Bản chất của xin vâng là từ bỏ chính mình và xin vâng theo ý của Thiên Chúa. Và tự thân, ý nghĩa này rất khớp với câu nói của Chúa Giêsu “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mc 8. 34). Chúng ta tự nhận là môn đệ của Chúa Giêsu, nhưng đôi khi, nhiều khi lại theo Ngài với tiêu chuẩn kép. Nghĩa là muốn đạt cả 2 mục tiêu, vừa tôn vinh Ngài và tôn vinh cả chính mình. Nếu chúng ta muốn và được người đời ca ngợi, Thiên Chúa sẽ không còn trả công nữa, trong tình huống này, Ngài bảo “họ đã được phần thưởng rồi” (Mt 6, 2).

Dù xuất hiện ít ỏi trong Tân Ước, nhưng những lần xuất hiện, Mẹ Maria đều để lại cho chúng ta các bài học lớn. Đức Maria là Đấng dạy chúng ta biết, đức tin nghĩa là từ bỏ cái tôi khi đã là môn đệ của Chúa Giêsu. Chúng ta ôn lại 3 sự kiện có liên quan sau:

Lần nhất, sau ba ngày, thánh Giuse và Mẹ Maria mới tìm thấy con trong Đền thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy. Mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con".Nhưng Chúa Giêsu lại đáp rằng "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?"( Lc 2, 41)

Lần hai, khi dân chúng ca ngợi Mẹ Maria, sau khi chứng kiến các phép lạ của Người Con bằng câu nói "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú", thì Chúa Giêsu đáp lại "Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Mc 3, 33).

Lần ba, trong tiệc cưới Cana, trước lời xin can thiệp của Ðức Maria, Chúa Giêsu đã trả lời: "Này Bà, giữa tôi và Bà, nào có việc gì ?" (Ga 2, 4). 

Các sự kiện trên khi đọc, chúng ta nghe xót xa, đau đớn. Và thực tế là như vậy. Các lời ấy chà xát, dày vò lên cái tôi, để cái tôi nhỏ lại và rồi tự hủy đi. Với ý nghĩa đó, đây cũng là thanh gươm mà tiên tri Simeon đã tiên báo cho Mẹ Maria: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà."  (Lc 2, 34). Quá trình từ bỏ hoặc tự hủy chính mình của Đức Maria trong Tân ước soi dẫn cho chúng ta đến một chân lý – chân lý này minh họa quá trình mà đức tin một cá thể được trưởng thành trong Thiên Chúa là: quá trình tự hủy cái tôi. Thánh Gioan Tẩy giả mô tả như sau về quá trình này: “Ngài thì lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại” (Ga 3, 30).

Chúng ta cùng xem lại quan niệm tự hủy cái tôi của hai thánh: Phansico Assisi và Mẹ Terexa Calcuta (tự hủy thì triệt để hơn từ bỏ, vì từ bỏ còn có thể quay lại).

Thánh Phanxico Asissi viết: “Những ai chịu đựng mọi gian khổ trên đời vì lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô, mà vẫn giữ được tâm hồn và thân xác bình an. Họ mới thật là người xây dựng hòa bình”.

Mẹ Terexa Calcuta quan niệm: “Tôi tin rằng nếu Chúa thấy một người nào yếu ớt hơn, vô vọng hơn tôi, Ngài thậm chí còn làm những điều cao cả hơn cho người ấy, vì công việc này là của Ngài”.

Đức Giáo hoàng Benedic 16 nói rằng “Hội thánh sinh ra khi Đức Mẹ đáp lời xin vâng”. Và đức tin của mỗi thành viên trong hội thánh này cũng có thể tóm lại bởi hành vi “xin vâng”.

Lạy Mẹ Maria, xin luôn trợ giúp để chúng con biết tự hủy bản ngã của chính mình để thấu đạt tới ý nghĩa của cụm từ xin vâng.