Get Adobe Flash player

“Chính Thầy Đây Mà”

Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT

Tin Mừng Lc 24,35-43

Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.

Mọi người còn đang bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: "Bình an cho các con! Thầy đây, đừng sợ". Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: "Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây". Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: "Ở đây các con có gì ăn không?" Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Đoạn Người phán: "Đúng như lời Thầy đã nói với các con, khi Thầy còn ở với các con, là cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh". Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh.

Người lại nói: "Có lời chép rằng: Đấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy".

Suy niệm

Sau khi được gặp Chúa Phục Sinh, hai môn đệ trên đường Emmau vội vã quay trở lại Giêrusalem gặp Nhóm Mười Một và các anh em đang họp nhau tại đó (Lc 24,33). “Hai ông thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (c.35).

“Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giêsu đứng giữa các ông và bảo: "Bình an cho anh em!" (c.36). Như đã từng xảy ra với hai môn đệ trên đường Emmau, Chúa Giêsu đột ngột đứng giữa Nhóm Mười Một và các anh em đang họp mặt. Ghi nhận này của tác giả Lc về sự hiện đến bất ngờ của Chúa Giêsu có một tầm quan trọng rõ ràng: ông muốn khẳng định rằng Chúa Phục Sinh không hề bị điều kiện hóa bởi những quy luật không gian – thời gian của thế giới này. Đàng khác, sự hiện diện của Chúa “ở giữa” các đồ đệ nhắc nhớ đến sự hiện diện của Đức YHWH giữa dân Người. Ngoài ra, sự hiện diện “sờ đụng được” của Chúa Phục Sinh, vốn là ân huệ ưu tiên đặc trưng dành cho các chứng nhân chính thức của mầu nhiệm phục sinh (x. Cv 10,41), bây giờ được thực hiện không phải ở một nơi chốn dành riêng cho Nhóm Mười Một, mà là ở giữa cộng đoàn có các anh em khác đang quy tụ, cho thấy Nhóm Mười Một được trao nhiệm vụ và đặc sủng là ở trong lòng cộng đoàn Hội Thánh. Chính trong cộng đoàn Hội Thánh ấy, Chúa Phục Sinh ban bình an và ơn cứu độ.

“Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (c.37). Sự sợ hãi vì tưởng thấy ma là một phản ứng bình thường trong những câu chuyện hoang đường bình dân. Chi tiết này có vẻ mâu thuẫn với lời truyên xưng lòng tin vừa được tường thuật ở c.34 ngay phía trước, rằng “Chúa trỗi dậy thật rồi và đã hiện ra với ông Simon”. Trong thực tế, như tác giả vừa kể ở c.34, sự phục sinh của Chúa Giêsu đã là nguồn vui và là một thực tại hoàn toàn mới mẻ của lòng tin. Nhưng tác giả cố ý đưa chi tiết sợ hãi vì tưởng thấy ma vào đây để hướng câu truyện đến một trong những chủ đề quan trọng của trình thuật, là chủ đề về thân xác phục sinh của Chúa. Và như thế, điểm nhấn mà ông nhắm đến không phải là thuyết phục rằng Chúa Giêsu đã sống lại, mà là vấn đề về thân xác của Chúa Giêsu Phục Sinh. Đây thực sự là một vấn đề “thời sự” và cần phải được đề cập đến trong thế giới Hy Lạp, vì người ta tin có ma chứ không chấp nhận quan niệm về sự sống lại của thân xác.

Vậy Chúa Phục Sinh nói với các môn đệ: "Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực?” (c.38). Câu hỏi của Chúa mang một chút hàm ý khiển trách. Bởi lẽ phản ứng sợ hãi của các đồ đệ ở c.37 cho thấy các ông đang nhận định sai: tưởng mình thấy ma là dấu hiệu cho thấy tâm trí các ông đang còn lẫn lộn, chưa phân biệt rõ bóng ma với thực tại phục sinh.

Rồi Chúa nói tiếp: “Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?" (c.39). Các môn đệ được mời gọi nhận biết Đấng Phục Sinh trong thực tại và chân tính cụ thể của Người. Người thực sự là Đức Giêsu mà các ông đã từng biết. Các ông hoàn toàn có thể an tâm về sự liên tục giữa Đức Giêsu lịch sử mà các ông đã từng sống với và Chúa Kitô của lòng tin mà các ông đang trải nghiệm.

Chúa mời gọi các ông hãy nhìn xem tay và chân của Người.Thông thường, để nhận ra một người nào đó, người ta chú ý trước hết đến khuôn mặt. Vì thế, lời mời gọi này có phần kỳ lạ. Nhưng chúng ta sẽ không phải lấy làm lạ nếu hiểu rằng ở đây có sự quy chiếu về các dấu đinh nơi tay và chân của Đấng đã chịu treo trên thập giá, tức là quy chiếu về những thực tại không thể chối cãi của biến cố thập giá kinh hoàng. Rồi tiếp sau lời mời “nhìn xem” là lời mời “rờ xem” để cảm nhận một cách khả giác về thân xác của Chúa Phục Sinh với xương và thịt, tức là trong những yếu tố vô cùng hiện thực. Tác giả cố ý nhắc đến những yếu tố hiện thực này để nhấn mạnh rằng Chúa Phục Sinh không phải là một thực tại tinh thần thuần túy thiêng liêng, càng không phải là một bóng ma.

Ngoài ra, bằng việc nhắc đến một loạt những yếu tố hiện thực như chân, tay, xương, thịt khi Chúa mời gọi các Tông Đồ trải nghiệm về thân xác phục sinh của Ngài, tác giả Lc nhằm mục tiêu củng cố cho tư cách của các Tông Đồ và cho giá trị của lời chứng của họ, những nhân chứng chính thức về mầu nhiệm quan trọng nhất của lòng tin Kitô giáo.

“Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem” (c.40). Chúa Phục Sinh không chỉ dùng lời để khẳng định Người không phải là bóng ma. Người còn xác nhận điều đó bằng những sự kiện cụ thể: Người cho các môn đệ xem tay và chân của Người. Tuy nhiên, vốn là một văn sĩ tế nhị, tác giả Luca đã không nói rằng các đồ đệ đã sờ đụng vào tay và chân Chúa.

Ông kể tiếp: “Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: "Ở đây anh em có gì ăn không?" (c.41). Có hai chủ đề truyền thống liên quan đến các cuộc hiện ra: sự không tin và niềm vui sướng. Tác giả Luca trộn lẫn hai chủ đề đó vào với nhau để trình bày bằng chứng về thực tại xác thể của Chúa Phục Sinh. Ông lý giải sự chưa tin của các môn đệ bằng một lý do tâm lý: “Các ông còn chưa tin vì mừng quá”. Về phía mình, Chúa Phục Sinh xin các ông cái gì đó để ăn: “Ở đây anh em có gì ăn không?”. Ăn là một hành động sẽ cho thấy một cách rất rõ ràng rằng Người không phải là một tinh thần thiêng liêng thuần túy, mà là một thực tại hiện thực, cụ thể, thực tế.

“Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông” (cc.42-43). Trên kia tác giả đã nhắc đến những yếu tố rất hiện thực: chân, tay, xương, thịt. Ở đây, ông còn đi xa hơn nữa. Không một tác giả Tin Mừng nào khác đã đẩy tính hiện thực của trình thuật đi xa đến như vậy: Đức Giêsu cầm lấy miếng cá nướng và ăn! Một điểm đáng chú ý nữa: thánh Luca đã không nói rằng Chúa Phục Sinh ăn cá nướng cùng với các môn đệ, mà là ăn trước mặt các ông, tức là trước sự chứng kiến của các ông. Chi tiết này càng nhấn mạnh giá trị minh chứng của hành động ăn. Dù sao, tác giả cũng không nói rõ các môn đệ phản ứng như thế nào trước hành động đặc biệt này của Chúa Phục Sinh. Nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng các ông đã hoàn toàn bị thuyết phục.

Rõ ràng trình thuật nhắm mục tiêu nhấn mạnh tính hiện thực của thân xác Chúa Phục Sinh. Tác giả muốn cho thấy rõ ràng Chúa Phục Sinh không phải là ma; người ta có thể nhìn xem và sờ đụng vào Người; và Người ăn trước mặt họ. Tác giả liên kết chặt chẽ hai mô-típ truyền thống: mô-típ về nhận thức (cho thấy sự đồng nhất giữa Chúa Phục Sinh và Đức Giêsu mà các môn đệ đã từng biết trước khi Người chết trên thập giá) và mô-típ hộ giáo (nói về tính hiện thực của thân xác Đấng Phục Sinh: Chúa Giêsu không phải là ma). Nhưng có lẽ khi biên soạn trình thuật này, thánh Luca chú ý hơn đến mô-típ hộ giáo: ông muốn nhấn mạnh trên chiều kích hiện thực xác thể của sự hiện hữu mới của Đức Giêsu.

Bên cạnh đó, hình như thánh Luca còn nhắm một mục tiêu khác: chuẩn bị cho các trình thuật trong sách Cv và cung cấp cho lời rao giảng của các Tông Đồ về mầu nhiệm phục sinh một nền tảng vững chắc hơn. Các ngài đã có những trải nghiệm hiện thực, “đậm đặc” và độc đáo trong việc tiếp xúc và gặp gỡ Chúa Phục Sinh. Chỉ các ngài mới được trải nghiệm một cách tròn đầy về Chúa Phục Sinh, và do đó, các ngài là những chứng nhân chính thức và có thẩm quyền về Người.

Đọc trình thuật Lc 24,35-43 trong khung cảnh Chúa Nhật III Phục Sinh, chúng ta được mời gọi đặt niềm tin vào Chúa Phục Sinh trong chiều kích hiện thực của đời sống mình hôm nay:

1. Thân xác Chúa Phục Sinh là một thực tại hiện thực và chúng ta gắn bó với mầu nhiệm ấy. Vì thế, việc quý trọng và gìn giữ thân xác của chính chúng ta trong sự thánh thiện hướng về cuộc sống phục sinh viên mãn với Chúa Kitô, là một đòi buộc quan trọng và thiết yếu của lòng tin vào mầu nhiệm phục sinh. Lòng tin ấy không hề khiến chúng ta coi thường những thực tại trần gian và thể xác, nhưng trân trọng chúng đúng như Thiên Chúa muốn khi Người phục sinh Đức Kitô từ cõi chết.

2. Lời rao giảng của các Tông Đồ và của toàn thể Hội Thánh về mầu nhiệm phục sinh không dựa trên những suy đoán hay ảo tưởng ấu trĩ, mà đặt nền trên Thánh Kinh và trên trải nghiệm thực tế của các Tông Đồ. Gắn bó với Hội Thánh và với các Đấng kế vị các Tông Đồ trong Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, chính là đòi buộc đương nhiên để hiểu và sống mầu nhiệm phục sinh. Lòng tin vào Chúa Kitô Phục Sinh vừa mời gọi vừa đòi hỏi sự hiệp thông thánh thiện và sự tuân phục trọn vẹn với Hội Thánh và các Tông Đồ. Chúng ta gặp gỡ Chúa Phục Sinh trong Hội Thánh, nhờ Hội Thánh và cùng với Hội Thánh. 

Gặp Gỡ Chúa Phục Sinh

Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT

Tin Mừng Ga 20,19-31

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Điđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Đoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin".

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

Suy niệm

Bài Tin Mừng hôm nay (Ga 20,19-31) kể lại hai cuộc hiện ra của Chúa Phục Sinh với cộng đoàn Hội Thánh.

1. Chúa Phục Sinh và cộng đoàn thừa sai (cc.19-23)

Chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em!” (c.19). Đấng Phục Sinh “đứng giữa các ông”, tức là Người hiện diện giữa cộng đoàn, làm trung tâm của cộng đoàn. Chính Người là nguồn sống, là trung tâm hiệp nhất toàn thể cộng đoàn đang tan tác vì sợ hãi. Người chào các môn đệ: “Bình an cho anh em!”. Lời chào này có giá trị bắt đầu cuộc gặp gỡ, nhưng không phải là một lời chào theo công thức sáo rỗng. Thực sự đây là một lời hữu hiệu, vì là lời của Đấng Phục Sinh. Trước khi đi vào Giờ vượt qua của Người, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy cho anh em bình an của Thầy… Anh em đã nghe Thầy nói: ‘Thầy ra đi và Thầy trở lại với anh em…” (14,27-28). Sự bình an đó được đặt cơ sở trên chiến thắng của Đức Giêsu đối với thế gian: “Trong Thầy, anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ gặp gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (16,33). Như thế, lời chào bình an của Đấng Phục Sinh cũng đồng thời là lời khẳng định chiến thắng của Người trên thế gian và vì thế, là lời ban bình an thật sự.

Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người” (c.20a). Cho xem tay và cạnh sườn ở đây là Đức Giêsu cho các môn đệ nhận biết Người đang hiện diện giữa họ. Tay và cạnh sườn mang những dấu tích của cuộc hành hình thập giá cho biết Đấng Phục Sinh đang hiện diện giữa họ đây cũng chính là Đấng đã chết trên thập giá. Và điều này là bảo đảm chắc chắn cho tính xác thực và hữu hiệu của ơn bình an mà Người ban cho họ khi nói “Bình an cho anh em”. Họ sợ người Do Thái vì người Do Thái có thể đẩy họ đến cái chết như đã xảy ra với Đức Giêsu. Nhưng bây giờ chính Đức Giêsu đã bị treo trên thập giá ấy đang hiện diện giữa họ, nghĩa là không quyền lực trần gian nào có thể tước mất sự sống của Đức Giêsu.

Đàng khác, cho các môn đệ xem những dấu tích của cuộc khổ nạn nơi mình, Đức Giêsu Phục Sinh tỏ mình là Con Chiên lễ Vượt Qua mới đã bị tế sát. Sự tồn tại mãi những dấu tích của cuộc khổ nạn trên thân thể phục sinh của Chúa chứng tỏ sự vĩnh cửu của tình yêu mà Người thi thố cho thế gian trong cuộc Vượt Qua của Người. Chúa Phục sinh, Đức Giêsu Kitô, sẽ vĩnh viễn là Đấng Mêsia chịu đóng đinh, từ nơi Người, trào vọt máu và nước.

Điểm đặc biệt là trước đây, trong trình thuật về cuộc đóng đinh Đức Giêsu, tác giả Ga không hề đề cập gì đến tay của Người. Trái lại, ông nhiều lần khẳng định rằng Chúa Cha đã trao mọi sự trong tay Đức Giêsu (3,35: “Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người”; 13,3: “Đức Giêsu biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người”) và rằng không ai có thể cướp khỏi tay Người những con chiên mà Chúa Cha đã trao cho Người (x. 10,20). Vậy đôi tay được đưa ra cho các môn đệ xem hôm nay là đôi tay ban cho các ông sự bình an đích thực. Đó là đôi tay tự do và nắm trọn quyền bính và sức mạnh. Cho các ông xem tay tức là Đức Giêsu cho các ông đụng chạm đến chính quyền năng vĩ đại mà Người có để bảo vệ các ông. Cạnh sườn lại diễn tả một thực tại khác. Cạnh sườn đã bị lưỡi đòng đâm thâu chính là bằng chứng hùng hồn của tình yêu vô biên mà Người đã thi thố trong cuộc tử nạn của Người. Cho các đồ đệ xem cạnh sườn tức là Đức Giêsu cho các ông trải nghiệm tình yêu vô biên của Người. Tình yêu vô biên đó sẽ được thực hiện nhờ cánh tay quyền năng của Người. Nói tóm lại, bằng việc cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn, Đức Kitô Phục Sinh chứng tỏ cho các ông thấy tình yêu, quyền bính và chiến thắng của Người.

Vì vậy, “các môn đệ vui mừng được thấy Chúa” (c.20b). Niềm vui này là sự thực hiện lời Đức Giêsu đã từng nói với các môn đệ: “Anh em sẽ ưu phiền, nhưng nỗi ưu phiền của anh em sẽ biến thành niềm vui” (16,20). “Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được” (16,22). Đó là niềm vui vì một thực tại mới, một sức sống mới đã bắt đầu ùa vào trần gian: “Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian. Anh em cũng vậy” (16,21-22a).

Đức Giêsu lại nói với các môn đệ: "Bình an cho anh em!” (20,21). Đức Giêsu lặp lại lời chúc bình an cho các môn đệ, nhưng chức năng của lời chúc bình an này có thay đổi so với lời chúc thứ nhất. Nếu lần thứ nhất là ơn bình an cho hiện tại, giải thoát các môn đệ khỏi nỗi sợ hãi lớn lao đang đè nặng tâm hồn và cuộc sống của họ, thì ơn bình an mà Người ban cho họ bây giờ là ơn dành cho tương lai, vì Người sắp trao cho họ sứ mạng quan trọng: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (20,21). Sứ mạng Chúa Cha đã trao phó cho Đức Giêsu là sứ mạng cứu độ thế gian. Như Đức Giêsu, các môn đệ được sai vào giữa thế gian để tiếp nối sứ mạng đó.

Sau khi ban bình an cho các môn đồ và trao sứ mạng cho họ, Đức Kitô Phục Sinh “thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (20,22-23). Trong Cựu Ước, Thiên Chúa ban sinh khí và sự sống cho con người khi thổi hơi vào con người mà Người đã tạo nên (x. St 2,7). Đức Kitô Phục Sinh thổi hơi của Người vào các môn đệ để ban Thánh Thần và sự sống mới cho các ông. Đồng thời với việc ban Thánh Thần, Đức Kitô Phục Sinh ban cho các môn đệ quyền tha tội: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (20,23). Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian (1,29). Các môn đệ tiếp nối sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu, nên cũng tiếp nối sứ mạng ban ơn tha tội của Người: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha”.

Và cũng giống Chúa Giêsu, cộng đoàn các môn đệ, tức là Hội Thánh, không có nhiệm vụ lên án thế gian. “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (3,17). Chính Đức Giêsu đã tuyên bố: “Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian” (12,47). Phán quyết của Hội Thánh không là gì khác hơn sự thừa nhận điều mà thế gian tự gây ra cho mình. Đó chính là ý nghĩa của sự “cầm giữ” trong lời “anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.

Tóm lại, chúng ta gặp trong phần thứ nhất của bài Tin Mừng hôm nay cộng đoàn Kitô hữu quy tụ chung quanh Đức Kitô - Đấng đang sống và hiện diện giữa cộng đoàn, Đấng đã chịu đóng đinh và đã phục sinh. Người là trung tâm của cộng đoàn. Người hiện diện ở trung tâm của cộng đoàn. Người làm cho các môn đệ của Người được bình an và vững tin khi cho họ xem những dấu hiệu chiến thắng của Người trên sự chết. Người hiện diện một cách tích cực và hữu hiệu trong cộng đoàn Hội Thánh, trao phó cho Hội Thánh sứ mạng loan báo Tin Mừng, đồng thời ban Thánh Thần và quyền tha tội để Hội Thánh thực thi sứ mạng cứu độ đó.

2. Chúa Phục Sinh và ông Tôma (cc.24-29)

“Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tôma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin" (cc.24-25). Ông Tôma không chấp nhận lời chứng của anh em. Sự hiện hữu của cộng đoàn mới mẻ và được biến đổi bởi Thánh Thần và quyền năng của Chúa Phục Sinh, đối với ông, chưa đủ là một bằng chứng rằng Đức Giêsu đã sống lại. Ông đòi hỏi một sự chứng thực của cá nhân ông.

“Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em" (c.26). Đức Giêsu đến và hiện diện giữa cộng đoàn và cho toàn thể cộng đoàn, chứ không phải cho một mình ông Tôma. Chính trong cộng đoàn chứ không phải là một cách tách biệt độc lập khỏi cộng đoàn mà ông Tôma sẽ được gặp Người và sẽ tìm thấy giải pháp cho vấn đề của ông. Đức Chúa Phục Sinh chấp nhận đáp ứng sự “thách đố” của ông Tôma, nhưng là trong cộng đoàn Hội Thánh.

“Rồi Người bảo ông Tôma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin" (c.27). Chúa Phục Sinh mời gọi ông Tôma trải nghiệm tình yêu và quyền năng của Người. Và Người bảo ông hãy tin. Nhấn mạnh trên khía cạnh thể lý của bằng chứng mà ông Tôma đòi hỏi và Đức Giêsu sẵn sàng ban cho ông, tác giả Ga muốn tập trung sự chú ý của người đọc trên tính liên tục giữa quá khứ và hiện tại của Chúa Giêsu, được diễn tả nhờ thực tại nhân loại của Người.

“Ông Tôma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" (c.28). “Chúa” là danh xưng mà các môn đệ dùng để gọi Đức Giêsu (13,13) hay để nói về Người (20,2.13.18.20.25). “Chúa” là Đấng đã rửa chân cho các môn đệ để loan báo cái chết của Người vì các ông (13,14), cái chết diễn tả mức độ tột cùng của tình yêu phục vụ mà Người dành cho các ông (15,13). Khi gọi Đức Giêsu là “Chúa của con”, ông Tôma nhận biết tình yêu của Chúa Giêsu và đón nhận tình yêu ấy bằng cách hoàn toàn tin vào Người.

Đồng thời, trong cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Phục Sinh, ông Tôma còn được trải nghiệm điều trước đây Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (14,20). Ông Tôma đã nhận ra sự nên một của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Nơi Chúa Phục Sinh, ông được gặp gỡ chính Chúa Cha (14,9: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”). Và ông thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Thiên Chúa của con!”.

“Đức Giêsu bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" (c.29). Lòng tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh hệ tại ở chỗ nhận biết sự hiện diện của Người trong cộng đoàn những người tin. Chính cộng đoàn Hội Thánh là nơi chốn tự nhiên trong đó Chúa Phục Sinh hiện diện và thi thố tình yêu của Người.  Ông Tôma là hình ảnh của những con người không chấp nhận giá trị của lời chứng của cộng đoàn, cũng không nhận ra những dấu chỉ của sự sống mới đang được thể hiện ở đó. Thay vì dấn thân và tham dự vào kinh nghiệm của cộng đoàn đó, ông Tôma đòi phải được một sự “đụng chạm” riêng tư. Chưa kể là ông không đi tìm Đức Giêsu – nguồn sự sống, nhưng lại đòi thấy một thi hài của quá khứ mà ông có thể quan niệm dựa trên những đụng chạm khả giác.

Trái ngược với trường hợp của ông Tôma, Đức Giêsu Phục Sinh công bố mối phúc cho những ai tin vào Người mà không đòi như Tôma đã đòi. Chớ gì chúng ta được hưởng trọn vẹn mối phúc ấy.

Đức Giêsu vào Giêrusalem trên lưng lừa

Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT

Tin Mừng            Mc 11,1-10

1 Khi Đức Giêsu và các môn đệ đến gần thành Giêrusalem, gần làng Bếtphaghê và Bêtania, bên triền núi Ôliu, Người sai hai môn đệ 2 và bảo: "Các anh đi vào làng trước mặt kia. Tới nơi, sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và đem nó về đây. 3 Nếu có ai bảo: "Tại sao các anh làm như vậy?", thì cứ nói là Chúa cần đến nó và Người sẽ gởi lại đây ngay." 4 Các ông ra đi và thấy một con lừa con cột ngoài cửa ngõ, ngay mặt đường. Các ông liền cởi dây lừa ra. 5 Mấy người đứng đó nói với các ông: "Các anh cởi con lừa ra làm gì vậy?" 6 Hai ông trả lời như Đức Giêsu đã dặn. Và họ để mặc các ông. 7 Hai ông đem con lừa về cho Đức Giêsu, lấy áo choàng của mình trải lên lưng nó, và Đức Giêsu cỡi lên. 8 Nhiều người cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá ngoài đồng mà rải. 9 Người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: "Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! 10 Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!"

Suy niệm

Trong cuộc kiệu lá hôm nay, Hội Thánh công bố bài Tin Mừng kể lại biến cố Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem trên lưng lừa (Mc 11,1-10).

Đức Giêsu đang trên đường từ Giêrikhô lên Giêrusalem, sau khi Người chữa lành cho anh Bartimê, người mù ngồi ăn xin bên vệ đường, và anh ta đi theo Người (Mc 10,52). “Đức Giêsu và các môn đệ đến gần thành Giêrusalem, gần làng Bếtphaghê và Bêtania, bên triền núi Ôliu” (Mc 11,1). Khi đã có thể nhìn thấy Bêtania từ triền núi Ôliu, Đức Giêsu dừng lại.

Người sai hai môn đệ và bảo: "Các anh đi vào làng trước mặt kia. Tới nơi, sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cưỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và đem nó về đây. Nếu có ai bảo: "Tại sao các anh làm như vậy? ", thì cứ nói là Chúa cần đến nó và Người sẽ gởi lại đây ngay." Các ông ra đi và thấy một con lừa con cột ngoài cửa ngõ, ngay mặt đường. Các ông liền cởi dây lừa ra. Mấy người đứng đó nói với các ông: "Các anh cởi con lừa ra làm gì vậy?" Hai ông trả lời như Đức Giêsu đã dặn. Và họ để mặc các ông” (cc.1b-6).

Giữa lời dặn của Đức Giêsu (cc.2-3) và sự thực hiện lời đó (cc.4-7) có một sự tương ứng rất chính xác, tương tự như trong việc chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua ở 14,13-16. Đức Giêsu thấy trước tất cả và Người đã đưa ra những chỉ dẫn cụ thể. Nhưng những gì được kể lại ở cc.1b-6 là những điều chưa từng xảy ra bao giờ, và xét dưới nhiều khía cạnh, là những điều rất không bình thường. Cho đến thời điểm này, Đức Giêsu là một người hầu như luôn luôn di chuyển, không hoạt động cố định ở một nơi nào mà đi khắp xứ sở. Nhưng thường thì Người đi bộ, hoặc đôi lần đi thuyền trên hồ. Lần này, trước khi vào Giêrusalem, Người lại sai hai môn đệ đi chuẩn bị cho Người một con lừa để cưỡi. Người muốn vào thành thánh trên lưng lừa.

Trong khi hai môn đệ thực hiện lệnh truyền thì Đức Giêsu cùng với những người khác chờ đợi bên triền núi và nghỉ ngơi tại đó. Các môn đệ không phải tìm lâu. Ngay ngoài cửa ngõ, bên mặt đường, các ông đã tìm thấy một con lừa con. Các ông chỉ việc cởi dây và dắt nó về. Và mọi sự diễn tiến đúng như Đức Giêsu đã dặn. Đức Giêsu sẽ cưỡi con lừa này, và Người sẽ chỉ cần nó cho một chốc lát thôi, tức là cho một dịp đặc biệt.

Hai ông đem con lừa về cho Đức Giêsu, lấy áo choàng của mình trải lên lưng nó, và Đức Giêsu cưỡi lên” (c.7).

Trình thuật đồng thời vừa cho thấy thẩm quyền của Đức Giêsu vừa cho thấy sự nghèo khó của Người. Trong tư cách là Chúa, Người ra lệnh đem đến cho Người con lừa mà trước Người, chưa ai cưỡi trên đó bao giờ. Nhưng con lừa đó lại không phải là tài sản của Người. Đó là con lừa đi mượn và Người sẽ trả lại ngay (c.3). Trên con lừa đó chẳng có lấy một cái yên; các môn đệ phải trải áo trên lưng nó để làm cái yên cho Người ngồi (c.7). Rồi Người tiến vào Giêrusalem.

Những người Do Thái cùng đi với Đức Giêsu vào thành thánh cũng thực hiện những hành vi rất lạ, chắc hẳn đã gây không ít ngạc nhiên cho mọi người chứng kiến. “Nhiều người cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá ngoài đồng mà rải. Người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: "Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!" (cc.8-10). Bằng hành động và bằng lời nói, họ nhận Đức Giêsu là vua và là Đấng đem lại niềm hy vọng lớn lao cho họ. Khi dùng lời Tv 118,26 “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa!”, dân chúng tuyên nhận rằng Đức Giêsu chính là Đấng được Thiên Chúa sai đến; Người sẽ thực hiện sứ mạng do Thiên Chúa trao phó, là mang lại cho dân phúc lành và sự trợ giúp quyền năng của Thiên Chúa. Họ tràn ngập hy vọng rằng Đức Giêsu đang mang đến cho họ triều đại Đavít, tổ phụ của họ. Thực ra, chính Đức Giêsu từng công bố một Vương Triều đã đến gần, nhưng đó là Nước Thiên Chúa (Mc 1,15) chứ không phải triều đại Đavít.

Cách thức Đức Giêsu đi vào Giêrusalem trên lưng lừa tương ứng một cách rõ ràng với những gì đã được loan báo trong Dcr 9,9-10: “Nào thiếu nữ Xion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ. Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Épraim và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất”. Bằng chính hành động mang tính biểu tượng của mình, Đức Giêsu muốn cho các đồ đệ và đám đông dân chúng biết Người là ai. Dân chúng cần phải ý thức rằng Người chính là vị vua đã được loan báo. Nhưng họ cũng phải ý thức rằng Người không phải là vị vua của bạo lực, mà là Vua khiêm tốn, Vua bình an, Vua công bố hòa bình.

Có vẻ dân chúng đã phần nào hiểu được ý nghĩa của điều Đức Giêsu đang muốn nói với họ. Họ đã đảm nhận vai trò của các thiếu nữ Xion mà ngôn sứ Dacaria đã loan báo. Họ vui sướng reo hò đón Người. Nhưng thực ra, họ mới chỉ hiểu đúng có một nửa. Trong phần thứ nhất của lời tung hô, dân chúng đã đúng khi nhận rằng Đức Giêsu chính là Đấng Thiên Chúa sai đến, và rằng Người là vua. Nhưng trong phần thứ hai của lời tung hô, họ mô tả theo cách hiểu sai lầm của họ, về kiểu loại vương quyền mà họ nghĩ là Người phải thực hiện. Họ chưa hiểu đúng về vương quyền mà Đức Giêsu sẽ thi thố tại Giêrusalem. Điều đang được Người diễn tả bằng hành động biểu tượng sẽ cần phải được đào sâu. Những gì Người sẽ thực hiện ở Giêrusalem trong những ngày sắp tới sẽ minh định cho họ biết căn tính và sứ mạng đích thực của Người.

Ý nghĩa quan trọng nhất của trình thuật này nằm ở chỗ: Đức Giêsu thực hiện một hành động đặc biệt trong quy chiếu rõ ràng về Kinh Thánh và cho thấy sự hoàn thành của lời Kinh Thánh. Vị Vua mà Thiên Chúa sai đến đã hiện diện đây rồi. Sự kiện Người đến và cùng với sự kiện ấy là Nước của Người, thì hoàn toàn khác hẳn sự giá lâm và vương quyền của một ông vua thế tục. Người không đến với quân đội, hay cảnh sát, hay vũ khí, hay vinh quang, hay quyền bính... Người chỉ khiêm tốn cưỡi trên một chú lừa con mà môn đệ mượn về cho Người, rồi Người sẽ trả chú lừa con đó cho chủ nó và cùng với đoàn người hành hương đi bộ vào dự lễ.

Người ta sẽ phải và có thể chờ đợi điều gì từ vị Vua khiêm tốn của hòa bình đó? Chắc chắn không thể lấy những thước đo và giá trị trần gian để đánh giá Người, vì rõ ràng Người không hành xử theo những thước đo và giá trị đó. Trái lại, Người chỉ một lòng tin tưởng tuyệt đối nơi Thiên Chúa và hoàn toàn để cho mình được hướng dẫn bởi thánh ý Thiên Chúa. Những người Do Thái đang đảm nhận vai trò của các thiếu nữ Xion theo lời ngôn sứ Dacaria sẽ phải điều chỉnh cách hiểu của họ về vương quyền mà Đức Giêsu đang thực hiện.

Tâm tình của Đức Giêsu khi đi vào Giêrusalem giữa tiếng reo hò của dân chúng chắc chắn sẽ không phải là một ý chí hùng bá với một chương trình hành động uy quyền, mà là tâm tình vâng phục trọn vẹn trong mầu nhiệm tự hủy, như thánh Phaolô trình bày trong bài đọc II của Lễ Lá hôm nay: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

Hôm nay, chúng ta mở đầu Tuần Thánh bằng việc lặp lại lời tung hô và sự hân hoan của đám đông Do Thái xưa khi Đức Giêsu ngồi trên lưng chú lừa con mà tiến vào Giêrusalem. Nhưng nhiệm vụ của chúng ta không phải là quỳ xuống trước vị vua của những khao khát và ý tưởng hùng bá như người Do Thái xưa, mà là buông mình để cho Đức Giêsu hướng dẫn, hoàn toàn cùng với Người phó thác cho quyền năng của Thiên Chúa và cùng với Người đi vào cuộc khổ nạn đau thương. Có lẽ đó phải là một trong những điểm nhấn quan trọng của Lễ Lá hôm nay.

Ánh Sáng Của Thập Giá

Lm. PX. Vũ Phan Long, ofm

Đã đến “giờ”. “Giờ” này đánh dấu lúc hoàn tất sứ mạng mạc khải và cứu độ, được Ngôi Lời làm người thực hiện.

1.- Ngữ cảnh

Câu truyện này nằm trong bối cảnh thời gian và thần học là tuần lễ cuối cùng trong sứ vụ của Đức Giêsu, tuần lễ Vượt Qua (x. Ga 12,1.12; 13,1; 18,28; 19,31) mà cuộc hy sinh của Đức Kitô, là Con Chiên Vượt Qua, sẽ biến thành lễ Vượt Qua mới và vĩnh viễn có sức giải phóng tất cả mọi người. Việc xức dầu ở Bêtania (12,1-11) chính là mở đầu mang tính tiên tri. Hành vi của Maria, chị của Ladarô, xức chân Đức Giêsu bằng dầu thơm cam tùng quý giá, đã loan báo việc mai táng Người (12,7). Quả thật, người ta không xức dầu lên chân một người sống như thế, mà thường xức cho một thi hài vào lúc làm nghi thức tắm rửa. Ta ghi nhận rằng theo TM Mc (14,3-9), người phụ nữ chỉ đã xức dầu lên đầu Đức Giêsu, và đấy là cử chỉ tiêu biểu trong việc xức dầu tấn phong ai làm vua và tấn phong đấng Mêsia.

Hôm sau, khi Đức Giêsu vào Giêrusalem (12,12-19), dân chúng đã tung hô Người như là “vua Israel”. Tác giả TM IV coi việc dân chúng cầm nhành lá thiên tuế hoan hô reo hò như là mức độ cuối cùng của sự sai lầm của dân chúng và Đức Giêsu im lặng để sửa chữa những niềm hy vọng thiên sai lầm lạc. Người cỡi lên một con lừa nhỏ vào lúc ấy – chứ không ngay từ đầu như trong các TMNL –, Đức Giêsu muốn cho họ thấy là giống như ông hoàng khiêm tốn mà ngôn sứ Dacaria đã loan báo (Dcr 9,9-10), Người hoàn toàn không có một mưu đồ chính trị nào. Cuộc Vượt Qua sắp tới của Người, tức cuộc Thương Khó, cái Chết, cuộc Phục Sinh, sẽ cho thấy rõ ràng kiểu “vinh quang” Người đang theo đuổi. Chỉ sau kinh nghiệm này các môn đệ mới nắm được bản chất đích thực của cuộc khải hoàn của Đức Giêsu (c. 16).

Đám đông thì vẫn không hiểu (cc. 17-18). Nhưng những lời hoan hô của họ khiến người Pharisêu phải phản đối và tranh luận với nhau: “Các ông thấy chưa: các ông chẳng làm nên trò trống gì cả! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết!” (c. 19b). Ở đây, tác giả TM IV vẫn vận dụng khả năng khôi hài quen thuộc của ngài. Nỗi lo sợ của người Pharisêu là thật hơn họ tưởng: cả người ngoại cũng đã xuất hiện (cc. 20-23).

Nhận định của người Pharisêu (c. 19b) khiến ta nghĩ ngay đến nhận định của thượng tế Caipha: “Các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân…” (11,50). Chính ông này cũng đã nói tiên tri mà không biết: trong tư cách là thượng tế, ông đã nói tiên tri là Đức Giêsu phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác (11,52).

Sự kiện mấy người ngoại đến xin gặp Đức Giêsu là một đỉnh cao trong cấu trúc văn chương và thần học của các ch. 11–12 của TM IV: kế hoạch cứu độ phổ quát, thậm chí ra ngoài biên giới dân tộc Do Thái, đang bắt đầu được thực hiện, ít nhất ở dạng mầm mống. Tất cả những điều đó chứng tỏ rõ ràng là giờ của cuộc Thương Khó đã được loan báo, giờ đưa tới vinh quang.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành bốn phần:

1) Người Hy Lạp đến gặp (12,20-22);

2) Đức Giêsu công bố về Giờ và dạy về thân phận của Người và của các môn đệ  ([“Đã đến giờ”], 12,23-26);

3) Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 12,27-30);

4) Giá trị của cái chết của Đức Giêsu (“bây giờ”, 12,31-33).

3.- Vài điểm chú giải

- mấy người Hy Lạp (20): Những lời mỉa mai ở c. 19 được ứng nghiệm tức khắc. Đây không phải là những người Do Thái Hải ngoại (diaspora; x. Ga 7,35), đã di cư ra khỏi Paléttina và bị phân tán trong các vùng dân ngoại, nhưng là những người ngoại giáo không cắt bì, thuộc về hạng người “kính sợ Thiên Chúa” (x. Cv 10,2.22.35; 13,16.26), tin vào vị Thiên Chúa duy nhất và tuân giữ đức công bình. Họ đã đến Giêrusalem không phải để du lịch mà là để hành hương, vì bị thúc đẩy bởi thao thức tìm ra chân lý.

- Họ đến gặp ông Philípphê (21): Họ ngỏ ý muốn với Philípphê bởi vì ông này nói tiếng Hy Lạp (tên Philípphê và tên Anrê là hai tên Hy Lạp), và cũng như họ, ông là người Bếtxaiđa, là vùng có đa số dân cư là người ngoại.

- Chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu (21): dịch sát là “muốn được thấy”, có nghĩa là “nói với Đức Giêsu”, trò chuyện với Người, để biết Người, khám phá ra chân tính của Người.

- Giờ (23): Đây là giờ Thương Khó, Chết và Phục Sinh, để Con Người được tôn vinh. “Giờ” đây là đỉnh cao của sứ mạng của Người và cũng là lúc kết án “thế gian” này với thủ lãnh của nó.

- tôn vinh (23): “Vinh quang” (doxa) là sự tỏa rạng sự hiện diện của Thiên Chúa, là ánh huy hoàng, vừa đáng sợ vừa thu hút, của Hữu thể thần linh. Vinh quang này ở trong Ngôi Lời nhập thể, nhưng tính khiêm hạ của mầu nhiệm Nhập Thể đã chế giảm đi ánh huy hoàng của vinh quang này, cho dù các lời nói và các công việc của Đức Giêsu lại là “dấu chỉ” đầu tiên của vinh quang này (x. 2,11). Cuộc Thương Khó, thay vì che phủ vinh quang này, lại vén mở cho thấy vinh quang này ở mức viên mãn: kể từ khi cái vỏ bọc nhân loại bị phá vỡ, sự hiện diện thần linh, như được giải phóng, mới xâm nhập tất cả nhân tính của Ngôi Lời để làm cho nhân tính này sống lại và lên trời.   

- nếu hạt lúa gieo vào lòng đất (24): Câu này được vọng lại trong 1 Cr 15,36. Rất có thể đây là một câu tục ngữ quen thuộc tác giả đã dùng để áp dụng cho trường hợp Đức Giêsu: chỉ cái chết của Đức Giêsu mới có thể đưa lại ơn cứu độ cho người khác.

- Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất (25): Câu này trở đi trở lại ở nhiều dạng (x. Lc 9,24 so sánh với Mc 8,35 và Mt 16,25; Mt 10,39 so sánh với Lc 17,33). Các TMNL áp dụng câu này cho những đau khổ và mất mát của đời môn đệ. Hẳn là tác giả TM IV cũng đang nghĩ tới những đau khổ của cộng đoàn của ngài (x. 15,18-21).

- Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó (26): Sự đồng nhất giữa Đức Giêsu và các môn đệ sẽ được nêu bật hơn trong các diễn từ cáo biệt (x. 13,13.16; 15,20). Phần kết “Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” lại xuất hiện trong ngôn ngữ tình yêu trong các diễn từ cáo biệt (14,23; 16,27). Xem Mc 8,38; Mt 10,32 so sánh với Lc 12,8.

- Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến (27): Tác giả TM IV đang cảm hứng hoạt cảnh Đức Giêsu hấp hối tại Vườn Ôliu, nhưng đăt hoạt cảnh ấy trong một bối cảnh khác. Cũng như trong các TMNL, khi thấy giờ chết đến gần, Đức Kitô run sợ: “Tâm hồn Thầy xao xuyến” (tetaraktai, c. 27a). “Tâm hồn” (psychê) đây cũng có nghĩa là bản thân, là mạng sống; mạng sống ấy đang chao đảo khi đứng trước cái chết sắp tấn công nó. Sự xúc động trong lòng (tô pneumati) mà Đức Giêsu cảm thấy khi đứng trước mộ Ladarô, bây giờ xâm chiếm tất cả bản thân Người (so sánh với Lc 22,43-44).

- Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha (28): x. Lc 11,2. Câu này diễn tả sự duy nhất trong kế hoạch của Đức Giêsu với ý muốn của Thiên Chúa. Đức Giêsu sẽ tôn vinh Thiên Chúa trên thập giá và cũng sẽ được Chúa Cha tôn vinh (x. 13,31-32; 17,4).

- có tiếng từ trời (28): Dân chúng không thể “nghe” được lời Thiên Chúa đáp lại Đức Giêsu, nên họ nghĩ đó là tiếng một thiên thần. Giống như trong truyện Ladarô, việc Đức Giêsu cầu nguyện cũng là một tấm gương cho họ.

- Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa  (28): Hành vi “tôn vinh” đầu quy về những “dấu lạ” Đức Giêsu đã làm và nhờ đó đã làm chứng về Chúa Cha, khi tôn vinh Ngài nơi Đức Giêsu. Hành vi “tôn vinh” thứ hai quy về cái chết và cuộc tôn vinh Đức Giêsu.

- mà vì các người (30): Như thế, tác giả đã biến truyền thống về “cơn hấp hối riêng tư” của Đức Giêsu thành một cuộc bày tỏ công khai công việc phục vụ vì vâng lời của Đức Giêsu.

- Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này (31): Cuộc phán xét (x. 3,18-19) lên cao điểm với cuộc đóng đinh. Tiếng sấm trong lời Thiên Chúa nói trong câu trước báo trước việc Thiên Chúa sẽ đến uy hùng mà tống “thủ lãnh của thế gian này” ra ngoài. Ở đây, tác giả dùng từ ngữ “thế gian” không phải để chỉ đối tượng được Thiên Chúa yêu thương, như trong 3,16, nhưng như một biểu tượng cho tất cả những gì là không tin và thù nghịch với Thiên Chúa (x. 8,24; 15,18-19; 16,8-11). Satan như là thủ lãnh của “thế gian” ở trong thế đối lập với Thiên Chúa, là một hình ảnh quen thuộc của nền văn chương khải huyền Do Thái. Nhưng tác giả chỉ dùng hình ảnh Satan để giải thích việc Giuđa phản bội thôi (6,70; 13,2.27) và trong những câu nói loan báo chiến thắng của Đức Giêsu (14,30; 16,11).

- một khi được giương cao lên khỏi mặt đất (32): Các truyền thống Kitô giáo tiên khởi coi việc Đức Giêsu bị đóng đinh như là việc Người được tôn lên bên hữu Thiên Chúa và coi đây là nền tảng cho quyền chủ tể của Người trên vũ trụ (x. Pl 2,9-11). Rất có thể cặp từ ngữ “được tôn vinh – được giương cao” của tác giả được lấy từ Is 52,13, nơi mà Người Tôi Tớ của Đức Chúa được “vươn cao”, và “được suy tôn”.

4.- Ý nghĩa của bản văn

Câu chuyện chúng ta đọc hôm nay xảy ra chỉ vài ngày trước các biến cố thuộc lễ Vượt Qua cuối cùng của Đức Giêsu.

* Người Hy Lạp đến gặp (20-22)

Một vài người Hy Lạp đã muốn gặp Đức Giêsu, không phải chỉ để nhìn thấy Người, nhưng là để biết Người, khám phá ra “căn cước” của Người. Câu 20 dường như cho hiểu rằng những người ngoại quốc kia đang thực hiện một hành trình thiêng liêng dài, và bây giờ cần “gặp” Đức Giêsu. Hành trình vào dịp lễ Vượt Qua đã đưa họ đến Giêrusalem không phải như du khách, mà là để cầu nguyện, để gặp Thiên Chúa, để khám phá ra điều Thiên Chúa muốn họ làm. Họ cảm thấy là Thiên Chúa muốn họ đến nói chuyện với Đức Giêsu. Họ không đến gặp Đức Giêsu trực tiếp, trước hết họ đến gặp các môn đệ, vì nghĩ rằng đó là cách tốt nhất để có thể gặp Đức Giêsu. Họ ngỏ lời với Philípphê, ông này lại nói với Anrê, và cả hai đã đến thưa với Đức Giêsu. Những người kia đã ngỏ lời với Philípphê vì ông (cũng như Anrê) có tên gọi Hy Lạp và phát xuất từ vùng giáp ranh của Galilê với thế giới Hy Lạp. Philípphê và Anrê đã ở trong số những môn đệ đầu tiên, vì muốn biết Đức Giêsu, đã đến với Người và đã là những người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm và đưa những người khác đến với Người (1,35-46). Trong truyện này, ta thấy được bổn phận họ phải chu toàn trong đời sống: làm trung gian để cho nhân loại có thể gặp Đức Giêsu.      

Chúng ta không biết là sau đó chuyện gì đã xảy ra, những người Hy Lạp đã gặp Đức Giêsu, hay đã về nhà mà vẫn chưa được gặp Người. Bản văn chỉ cho thấy Đức Giêsu không ngỏ lời trực tiếp với họ. Nhưng bây giờ, chỉ còn ít ngày nữa trước khi Người chịu chết và bởi vì những người này đã đến với Người, Người xác định tầm quan trọng và hiệu năng của cái chết của Người trên thập giá và gửi đến dân Do Thái lời kêu gọi cuối cùng.

Như vậy, ta hiểu việc người ngoại đi tìm một trung gian dường như có một ý nghĩa biểu tượng. Thế giới ngoại giáo chưa hề biết trực tiếp Đức Giêsu, mà chỉ nhờ lời rao giảng của các tông đồ: người ngoại đã “thấy” Đức Giêsu nhờ Tin Mừng được rao giảng cho họ. Nhưng giữa ước muốn được “thấy” Đức Giêsu và việc “gặp” Đức Giêsu, tức đi vào Vương quốc nhờ lời rao giảng của các tông đồ, còn có cuộc Thương Khó-Chết-Phục Sinh của Đức Giêsu, tức “giờ” của Người (c. 23). Chỉ khi đó mọi hàng rào được dựng lên bởi các chủ trương đặc thù bè phái mới đổ hết. Cũng chỉ khi đó mới bắt đầu những kinh nghiệm đầu tiên về niềm tin chân chính vào Đức Kitô hằng sống, vào Đức Kitô “Đức Chúa” (x. Ga 20,18.20.28.29; 21,7.12.17), là những kinh nghiệm không thể có được trước Phục Sinh (Vượt Qua).

Lời thỉnh cầu của những người ngoại vô tình lại là một cử chỉ đón tiếp khải hoàn. Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận, như trong cuộc đón tiếp của người Do Thái khi Người vào Giêrusalem. Nhưng trước hết, Người phải điều chỉnh ý tưởng lệch lạc đám đông Giêrusalem có về vinh quang và cuộc khải hoàn của Người (x. 12,12-16). Việc người Hy Lạp đến như thế giống như một bài học biểu tượng, bổ túc cho truyện đi vào Giêrusalem. Lời Đức Giêsu nói (cc. 23-26) là một trả lời gián tiếp cho nguyện vọng được những người ngoại ấy diễn tả ra: chính là nhờ cuộc Thương Khó của Người mà Đức Kitô, một khi đã bị sát tế, sẽ dễ dàng cho họ gặp được.

* Đức Giêsu công bố về Giờ và về thân phận của Người và của các môn đệ (“đã đến giờ”, 23-26)

Kể từ câu 23, tác giả TM IV chẳng còn nói gì đến những người ngoại kia nữa, hay đến thỉnh nguyện của họ có được thoả mãn hay không nữa. Ta gặp kiểu viết tương tự trong cuộc gặp gỡ Nicôđêmô: đến một lúc nào đó, bài tường thuật thôi nói về ông, để nhường chỗ cho những lời nói của Đức Giêsu và những suy tư của tác giả.

Sự xuất hiện của những người ngoại giáo và thỉnh nguyện của họ khiến Đức Giêsu hiểu rằng giờ mà Người hằng mong đợi, mà TM IV cho thấy đang đến gần (2,4; 7,6.8.30; 8,20), thực sự đã đến. Đây là giờ của “Con Người”, giờ Đức Giêsu chiến thắng bằng cách đi qua thập giá, giờ Người được “tôn vinh” (x. 3,14; 8,28; 12,32). Cái chết của Đức Giêsu không phải chỉ là kết quả của sự tàn bạo của loài người và cũng không phải là kết thúc ô nhục của Đức Giêsu. “Giờ” của Người đã được Chúa Cha quyết định.

Đức Giêsu, Con Người, sẽ được tôn vinh bằng chính cái chết của Người. Cái chết này minh chứng một cách sáng ngời và thuyết phục rằng Con Thiên Chúa được liên kết với Chúa Cha bằng một dây vâng phục dù phải trải qua thử thách nào và rằng Người hiến mình cho chúng ta không dè giữ. Cái chết của Người cho thấy tình yêu vô biên của Người, bởi vì Người sống hoàn toàn cho Chúa Cha và hoàn toàn cho loài người chúng ta.

Sự phong phú của công trình của Người tùy thuộc cái chết của Người; và Người buộc các môn đệ Người hành động như chính Người đã hành động. Đức Giêsu nhắc lại kinh nghiệm sống mỗi ngày: thiên nhiên không sản sinh ra gì cả nếu trước đó không có một cái chết nào đó. Chỉ khi một hạt lúa mì bị hủy đi, nó mới trở thành một khối lượng lúa lớn. Chính là vì Người đã chịu cái chết và đã tỏ chính mình ra trong cái chết, mà Đức Giêsu sẽ quy tụ lại quanh Người một đoàn người đông đảo (x. 12,32). Đã chết rồi, Người không biến mất khỏi loài người, nhưng lại trở thành trung tâm của một cộng đoàn mênh mông. Người không ra sức bám lấy cuộc sống của Người. Cuộc sống trần thế đối với Người không phải là một sự thiện tối cao phải cứu lấy bằng mọi giá. Chỉ những ai liên kết với Người khi phục vụ, mới sẽ được liên kết với Người sau này. Chỉ kẻ nào đã theo Đức Giêsu trong cuộc sống, mới sẽ đạt tới mục tiêu và mới có phần phúc khi được Chúa Cha nhìn nhận.

* Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 27-30)

Phân đoạn này nhắc tới hoạt cảnh Vườn Ghếtsêmani trong các TMNL (chẳng hạn Mc 14,34-36). Rõ ràng tác giả TM IV đang cảm hứng hoạt cảnh Vườn Ôliu. Tuy nhiên, ngài đăt hoạt cảnh ấy trong một bối cảnh khác, ngài giải thích hoạt cảnh ấy và sửa chữa đôi chút. Cũng như trong các TMNL, khi thấy giờ chết đến gần, Đức Kitô run sợ: “Tâm hồn Thầy xao xuyến” (27a). “Tâm hồn” đây cũng có nghĩa là bản thân, là mạng sống, mạng sống mà người ta phải “ghét” và chịu mất để cứu được; mạng sống ấy đang chao đảo khi đứng trước cái chết sắp tấn công nó. Sự xúc động trong lòng (tô pneumati) mà Đức Giêsu cảm thấy khi đứng trước mộ Ladarô, bây giờ xâm chiếm tất cả bản thân Người (so sánh với Lc 22,43-44).

Nhưng rồi từ đó tác giả triển khai các điểm theo cách riêng. Câu hỏi: “Thầy biết nói gì đây?” cho thấy là Đức Giêsu bị đăt vào thế lưỡng nan là xin Cha Người: “Xin cứu con khỏi giờ này” hay là: “xin tôn vinh Danh Cha”. Và Người chọn tức khắc cách cầu nguyện thứ hai. Ngoài ra, trong TM IV, Đức Giêsu luôn “năng động [tích cực]” trong cuộc Thương Khó của Người. Người làm chủ tình hình (x. Ga 18,6), Người ý thức trọn vẹn về vai trò Người đảm nhận, Người hoàn tất tuyệt vời sứ mạng Cha Người đã giao: hy sinh mạng sống để cứu độ toàn thể thế giới. Ở tại ngưỡng cửa cuộc Khổ Nạn, ta không thể tưởng tượng ra một lời cầu nguyện nào khác trên môi Đấng được Thiên Chúa sai đến, ngoài lời này: “Xin tôn vinh Danh Cha” (x. Ga 17,4). Nếu Người trốn “giờ” này (hiểu là “những gì sẽ xảy ra vào lúc ấy”) 1, giờ mà Người hết sức mong mỏi và cuối cùng nay đã tới, hẳn sẽ là phá hủy tất cả tầm mức gồm tóm trong mầu nhiệm Nhập Thể: khi đó Chúa Con đã nhận lấy nơi mình cuộc sống trần thế với tất cả chiều sâu của nó và đặc tính bi thảm của nó, để sống trọn cuộc sống này cho tới chết, không phải cho bản thân Người mà là cho những người khác. Khi Đức Giêsu chấp nhận “giờ” này, Người đã tôn vinh Chúa Cha, bởi vì như thế, dự phóng cứu độ toàn thế giới cuối cùng được bày tỏ trọn vẹn, và dự định đó, cuộc Thương Khó, cái Chết và cuộc Phục Sinh của Con Cha sẽ thực hiện.

Cũng như trong tất cả các Tin Mừng, ở đây cũng vậy, khi đứng trước cái chết, Đức Giêsu quay ra cầu nguyện với Chúa Cha (x. Mc 14,32-42). Người ý thức về ý nghĩa của cái chết của Người, nhưng không vì thế mà Người đi đến đó hoàn toàn vô cảm. Cũng như mọi con người, chính Người cũng sợ hãi tránh né cái chết, cũng bị rúng động bởi định mệnh phải chết của mình. Vì Người có sự nhạy cảm của loài người, hẳn là Người cầu xin Chúa Cha cất cho Người bước đường này. Nhưng Người không chịu thua ước muốn của riêng mình, Người muốn tuân theo sự hướng dẫn của Chúa Cha, nên đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (c. 28). Như thế Người đồng ý về ý nghĩa của định mệnh của Người, như Thiên Chúa đã thiết định, nên Người lấy điều này làm mục tiêu của lời cầu nguyện.

Như thế, cái chết của Đức Giêsu cho thấy rõ những gì nằm ở trong tên “Cha” và cho thấy Chúa Cha đã nghiêng quá mức thế nào về phía con người, nên mới ban cho chúng ta chính Con Một của Ngài (x. 3,16). Đức Giêsu không thua Chúa Cha trong tình yêu, Người cầu xin để tình yêu của Chúa Cha có thể trở nên hiển nhiên, cho dù Người biết rằng điều này đòi hỏi cái giá là mạng sống Người.       

* Giá trị của cái chết của Đức Giêsu (“bây giờ”, 31-33).

Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá cũng là chiến thắng vĩnh viễn của Người trên ma quỷ. Nó sẽ bị tống ra ngoài, và không còn có một vị trí quyền lực nào nữa. Công việc ma quỷ làm là nhắm chia lìa con người khỏi Thiên Chúa, làm mờ tối cái nhìn của họ khiến họ không thấy được Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu lại là mạc khải cao độ nhất về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người và về dây vâng phục nối kết bất khả phân ly Đức Giêsu với Thiên Chúa. Như thế, ý đồ của ma quỷ hoàn toàn thất bại. Với cái chết của Người, Đức Giêsu cũng khởi sự hoạt động phổ quát của Người, liên hệ tới toàn thể nhân loại. Được giương cao trên thập giá như là biểu tượng của tình yêu của Thiên Chúa (x. 3,14-17) và được nâng lên đến Chúa Cha trong quyền lực thiên đình của Người, Đức Giêsu tới với cả nhân loại, đón nhận họ vào trong tình yêu huy hoàng của Người. Như thế, Người cũng được giương cao cho người Hy Lạp nữa, là những người muốn gặp Người. 

+Kết luận

Trong bản văn này, tác giả nêu bật điểm chú ý là “giờ” của Đức Giêsu, cả trên bình diện lịch sử lẫn thần học. Theo quan điểm Kitô học, “giờ” này đánh dấu lúc hoàn tất sứ mạng mạc khải và cứu độ, được Ngôi Lời làm người thực hiện. Sứ mạng này tiêu biểu cho trọn cuộc sống của Đức Kitô, vì cuộc sống của Người hướng về đó. Khi đó sẽ xảy ra cuộc “phán xét” (krisis) nhân loại. Khi đó sẽ xảy ra giữa loài người một cuộc “tách biệt” (krima) do người ta tin hay không tin vào mầu nhiệm Đức Kitô chịu chết và được tôn vinh. Sự chọn lựa này đảm bảo cho một số người được cứu độ và được sống muôn đời, và lôi kéo án phạt và cái chết đến cho những người khác.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Như Philípphê và Anrê, chúng ta cũng có nhiệm vụ làm trung gian giúp kẻ khác gặp được Đức Giêsu. Nhưng muốn thế, chính chúng ta đã phải gặp Đức Giêsu và có kinh nghiệm về Người rồi. Chúng ta cũng ghi nhận những tương quan giữa các môn đệ để giúp người ta gặp Đức Giêsu: người Hy Lạp đến gặp Philípphê, có lẽ vì quen biết ông hơn. Nhưng Philípphê lại cần có Anrê để có thể mạnh dạn đi gặp Đức Giêsu...

2. Những người Hy Lạp đây đại diện cho tất cả những người ngoại ước muốn biết Đức Giêsu. Không ai có thể trở thành Kitô hữu mà lại không có một môn đệ của Đức Kitô nói cho biết về Người, và giới thiệu với Người về họ.

3. Vinh quang trong cuộc sống vĩnh cửu, tuy vẫn là một ân ban nhưng-không của Thiên Chúa, vẫn cần có sự cộng tác của chúng ta. Chỉ những ai đã liên kết với Đức Giêsu khi phục vụ, mới sẽ được liên kết với Người sau này trong vinh quang thiên quốc. Có trung thành bước theo Người hôm nay, sau này chúng ta mới mong được  thông phần gia nghiệp với Người.

4. Đức Giêsu đã đến thế gian như là ánh sáng cho mọi người (1,9). Khi Người đã được giương cao trên thập giá, từ nơi Người sẽ phát ra ánh sáng chói chang huy hoàng nhất, cho thấy mọi sự trong tính chân thật nhất: Thiên Chúa trong tình yêu vô biên của Ngài; Con Người trong việc hiến mình không dè giữ và trong hoạt động bao trùm toàn nhân loại; ma quỷ bị thua trong quyền lực của nó. Trong ánh sáng này, chúng ta phải chọn lựa cuộc sống chúng ta như là con đường bước theo Đức Kitô.

5. Tất cả những ai muốn đưa lại ơn ích cho người khác, cũng phải chấp nhận thân phận “hạt lúa gieo vào lòng đất phải chết đi”. Mọi Kitô hữu đều được kêu gọi sống Giờ của Đức Giêsu: trước tiên, người Kitô hữu không thể tránh giết chết trong mình những gì chống lại sự sống đích thực (= sự từ bỏ chính mình); đồng thời phải sống một mầu nhiệm phục sinh, tôn vinh và hân hoan (= niềm vui thiêng liêng).

----------------------------------------------
1. Phép métonymie: gọi một điều bằng một từ khác.

Đức Giêsu ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào

Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT

Tin Mừng            Ga 12,20-33

20 Trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hylạp. 21 Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin rằng: "Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu." 22 Ông Philípphê đi nói với ông Anrê. Ông Anrê cùng với ông Philípphê đến thưa với Đức Giêsu. 23 Đức Giêsu trả lời: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! 24 Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy."

27 "Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. 28 Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha." Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: "Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!" 29 Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: "Đó là tiếng sấm!" Người khác lại bảo: "Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy!" 30 Đức Giêsu đáp: "Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. 31 Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài! 32 Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi." 33 Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.

Suy niệm

Bài Tin Mừng hôm nay (Ga 12,20-33) gồm hai phần: sứ mạng phổ quát và những điều kiện cho sự thành toàn sứ mạng đó (cc.20-26); thân phận Đức Giêsu – Đấng Mêsia được giương cao (cc.27-33).

Khi ấy, “trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy Lạp. Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin rằng: "Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu." Ông Philípphê đi nói với ông Anrê. Ông Anrê cùng với ông Philípphê đến thưa với Đức Giêsu” (cc.20-22).

“Người Hy Lạp” nói đây tức là những người không phải dân Do Thái. Họ đến gặp ông Philípphê để xin được gặp Đức Giêsu. Trước đây, ông Philípphê chính là người đã mạnh dạn giới thiệu với ông Nathanael về Đức Giêsu và mời ông ấy đến gặp Ngài (1,46). Bây giờ, những người Hy Lạp tự tìm đến xin gặp, nhưng ông Philípphê không dám một mình đến xin Đức Giêsu. Ông tìm ông Anrê, và chính Anrê hình như cũng không dám một mình trình bày sự việc với Đức Giêsu. Và hai ông cùng đến thưa với Đức Giêsu. Một số người nghĩ rằng có lẽ chi tiết này phản ánh khó khăn xảy đến trong cộng đoàn Gioan: Hội Thánh muốn loan báo Tin Mừng cho dân ngoại, nhưng có những anh em gốc Do Thái chưa hoàn toàn bình an với cố gắng đó của cộng đoàn. Vì thế, tác giả Gioan muốn cho thấy rằng quyết định đó không tùy thuộc sáng kiến cá nhân, cũng chẳng phải chỉ là sáng kiến của cộng đoàn, mà là quyết định được đưa ra sau khi đã được Đức Giêsu “hoan nghênh” và tuyên bố: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!” (c.23). Quả thực, Đức Giêsu đã không trực tiếp ngỏ lời với những người Hy Lạp, mà là với các môn đệ, tức là với cộng đoàn Hội Thánh. Và điều đó có nghĩa là Người “ủng hộ” Hội Thánh trong sứ mạng đến với dân ngoại.

Lần đầu tiên Đức Giêsu công bố rằng “đã đến giờ”, vốn là “giờ” mà Người đã từng loan báo về nó từ khi bắt đầu sứ vụ công khai của Người ở 2,4. Và đó là “giờ Con Người được tôn vinh”. Vinh quang được thể hiện trong giờ đó, chính là “vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, Đấng là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (1,14). Khi “những người Hy Lạp” đến với Người, Đức Giêsu không tính trước hết đến chuyện truyền bá cho họ một học thuyết hay một chủ nghĩa hay một ý thức hệ hay một hệ thống tư tưởng cao sâu. Nhưng Người coi đó là lúc thể hiện vinh quang, tức là lòng yêu mến, ân sủng và sự thật. Điều quan trọng không phải là những học thuyết cao sâu phải được truyền dạy, mà là “những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (1,12). Người sẽ thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha. Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (17,1-3).

Sau đó, Đức Giêsu nói đến cái cách thức mà sứ mạng phổ quát của Người và cũng là của các đồ đệ phải được thực hiện để sinh hoa kết trái. Người nói : Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác (c.24). Sẽ không thể đem lại sự sống đích thực mà không hiến ban chính mình. Sự sống là hoa trái của tình yêu và trào vọt từ sự viên mãn của tình yêu, từ sự hiến tặng trọn vẹn và tận cùng. Trong ẩn dụ hạt lúa chết đi trong lòng đất, sự chết chính là điều kiện không thể thiếu để năng lực sự sống mà hạt lúa mang nơi mình được giải phóng và sinh nhiều hạt khác. Sự sống, khi ấy, sẽ lớn mạnh trong những dạng thức khác hẳn và rất phong nhiêu. Hoa trái bắt đầu trong chính hạt giống đang chết đi đó. Sự chết được nói đến ở đây không phải là một sự kiện cô độc, mà là đỉnh điểm của một tiến trình hiến ban chính mình. Sự chết đó xảy đến như là hành động tối hậu của một sự hiến mình kiên trì và có khi rất lâu dài.

Trong khung cảnh của đoạn Tin Mừng mà chúng ta đang suy niệm, hoa trái cụ thể là những người Hy Lạp đang tìm đến với Đức Giêsu, hay nói chính xác hơn, họ là hình ảnh của những hoa trái được sinh ra từ hạt lúa đang đi vào đỉnh điểm của sự hiến mình vì ơn cứu độ nhân loại của Đức Giêsu.

Sự hiến dâng chính mạng sống mình của Đức Giêsu, và cùng với Người là các đồ đệ, là thực tại làm nên sự phong nhiêu đích thực của ơn cứu độ thế gian. Đó không phải là sự mất mát, không phải là sự bị hủy diệt, mà là sự đưa sự sống đến chỗ viên mãn thực sự. Đức Giêsu khẳng định : "Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời" (c.25). Nỗi sợ mất mạng sống là chướng ngại vật lớn lao của sự hiến ban sự sống, và do đó, là nguy cơ lớn làm cho người ta mất chính sự sống mình. Vì tình yêu đích thực hệ tại ở chỗ quên đi chính mình và sự an nguy của chính mình, đến nỗi sẵn sàng mất ngay cả mạng sống mình. Nhưng đó không hề là một sự quên mình mù quáng, mà là sự quên mình thấm đẫm lòng tin vào sự phong nhiêu của tình yêu. Đó chính là bí mật của sự phong nhiêu đích thật : hiến ban chính mạng sống mình.

Sau khi khẳng định cái bí mật ấy, Đức Giêsu kêu gọi mọi người đi vào trong sự hiến mình thánh thiện như chính Người. Chính Người đang hiến mình vì ơn cứu độ thế gian. Chính Người là hạt lúa được gieo vào lòng trần gian và đang chết đi để sinh những bông lúa trĩu hạt mà sự hiện diện của những người Hy Lạp kia là một trong những hình ảnh mở đầu. Các môn đệ tiếp nối sứ mạng đó của Người. Vì thế, Người nói : "Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy" (c.26). Người ấy tham dự vào sứ mạng và thân phận của chính Đức Giêsu.

Vì ơn cứu độ trần gian, Đức Giêsu hiến mình đến chết đi như hạt lúa được gieo vào lòng đất. Sự chết đi đó được thực hiện trong trọn vẹn nhân tính của Người. Chính trong nhân tính ấy, Đức Giêsu tâm sự với các môn đệ : "Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến!" (c.27a). Sự xao xuyến của Đức Giêsu trước cái chết, lại chính là bằng chứng của sự hiến mình trọn vẹn trong tất cả nhân tính đích thực của Người. Đức Giêsu không hiện diện giữa chúng ta như một ‘siêu nhân’, nhưng trong chính xác thể và thân phận nhân loại, Người hiến mình vì ơn cứu độ của toàn nhân loại.

Cái chết của Đức Giêsu sẽ xảy đến trong sự ác độc và ghét bỏ sống sượng của hàng lãnh đạo Do Thái. Và vì thế, đó sẽ là một cái chết kinh khủng. Nhưng cái chết đó cũng đồng thời là ‘giờ’ của Người, trong đó bao hàm và thể hiện ý nghĩa của tất cả cuộc sống Người. Cái chết đó vừa là điểm đến vừa là hệ luận của tất cả đời sống Người. Trong cái chết ấy, hiện tỏ vinh quang và tình yêu trọn vẹn của Người. Vì thế, Đức Giêsu nói : "Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này? Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến"  (c.27b). Rõ ràng Đức Giêsu không đi đến cái chết trong dáng vẻ ung dung với một nụ cười khinh khỉnh trên môi ! Người đối diện với nó trong tất cả sự nghiêm túc và đau đớn. Nhưng chính trong đau đớn, xao xuyến và kinh hoàng như thế mà tình yêu đạt đến mức độ trọn vẹn. Đó là cái chết của hạt lúa được gieo vào lòng đất để sinh nhiều bông hạt.

Trong chính sự phản ứng xao xuyến và sợ hãi rất ‘người’ trước cái chết của mình, Đức Giêsu khẳng định cái quyết định rõ ràng, mạnh mẽ của chính Người : quyết định đi đến tận cùng của sự hiến ban chính mình và hoàn tất công trình của Chúa Cha. Trong quyết định ấy, Người thưa với Chúa Cha : "Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha" (c.28a). Đức Giêsu không hề xin Chúa Cha can thiệp để giải thoát Người khỏi tình cảnh bi đát của cái chết ô nhục. Người kiên quyết khẳng định sự trung thành với sứ mạng đã lãnh nhận, như chính Người đã từng nói : "Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được" (10,17-18).

“Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: "Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!" (c.28b). Câu trả lời từ trời xác nhận giá trị của thái độ của Đức Giêsu. "Từ trời" tức là từ cảnh vực thần linh của Thiên Chúa, từ chính Thiên Chúa. Khi cầu xin Chúa Cha tỏ vinh quang Ngài, Đức Giêsu cầu xin cho dân chúng và vì dân chúng, tức là vì toàn thể nhân loại, bởi vì ơn cứu độ và sự sống của toàn nhân loại tùy thuộc vào sự tôn vinh đó, như Người sẽ thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha. Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (17,1-3).

"Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: "Đó là tiếng sấm!" Người khác lại bảo: "Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy!" (c.29). Đám đông dân chúng biết nguồn gốc của tiếng vọng xuống là từ trời. Nhưng họ lý giải ý nghĩa và chức năng của tiếng ấy theo những cách thức khác nhau. Có người hiểu đó là sự thể hiện thần linh theo nghĩa một cái gì mang tính đe dọa (tiếng sấm; x. Xh 19,16). Người khác hiểu đó là tiếng của một thiên thần và được ngỏ riêng cho Đức Giêsu mà thôi.

“Đức Giêsu đáp: "Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người” (c.30). Đức Giêsu công nhận đó là một sứ điệp từ trời, nhưng không phải là sứ điệp dành cho Người, mà là cho dân chúng đang hiện diện ở đó.

Người nói tiếp: “Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài!” (c.31). Cái thế gian từ chối Đức Giêsu là cái thế gian từ chối bước vào ánh sáng, tức là tự chọn cho mình bản án là bị tống ra bên ngoài. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách” (3,16-20).

Cái chết của Đức Giêsu sẽ không phải là sự chiến thắng của thế gian, mà trái lại. Thủ lãnh thế gian đã từ khước Người sẽ phải chịu sự hủy diệt muôn đời, như cành nho bị quăng vào lửa.

Về phía Đức Giêsu, cái chết lại là cuộc Người được tôn dương. Và Người tuyên bố: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (c.32). Đức Giêsu không nói rõ ràng đến thập giá, mà chỉ nói đến sự được giương cao lên mà thôi. Thật ra, được giương cao lên không chỉ có nghĩa là chết trên thập giá, mà còn có nghĩa là đi vào trong quyền năng tác sinh và cứu độ từ chính cái chết đó. “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (3,14-16).

Bài Tin Mừng hôm nay kết thúc với lời ghi nhận: “Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào” (c.33). Cái chết của Đức Giêsu, trong bài Tin Mừng này, đã không được trình bày trong sự nhấn mạnh đến sự kinh khủng đáng sợ của nó (tuy tác giả không né tránh điều đó), nhưng chính yếu là trong giá trị cứu độ và chiều kích vinh quang của nó. Chúng ta thường dễ bị cám dỗ chú ý đến tính cách bi thương trong khi tưởng niệm sự chết của Đức Giêsu. Có tính cách đó, nhưng không chỉ như thế. Giá trị cứu độ, sức mạnh tác sinh, tính cách hiến mình, ý nghĩa tình yêu và chiều kích vinh quang của cái chết đó cần phải được ý thức, chiêm niệm và nhấn mạnh trong các cuộc cử hành thánh. Đó cũng là điều mà Hội Thánh muốn nhấn mạnh với từng người chúng ta một cách đặc biệt trong những ngày cuối cùng này của Mùa Chay này. 

HIỆN DIỆN TRƯỚC MẶT THIÊN CHÚA (Lc 18,9-14)

Lm. Giuse Ngọc Huỳnh

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu kết án trực tiếp và mạnh mẽ một thái độ sai lầm của những người Pharisêu đối với Thiên Chúa.

Khác hẳn lời cầu nguyện của người thu thuế, lời cầu nguyện của người Pharisêu trong dụ ngôn được đặc trưng bởi hai yếu tố: (1) sự thống lĩnh của yếu tố “tôi” xét như là chủ thể của mọi hành động và (2) sự thiếu vắng lời xin ơn tha thứ.

Người Pharisêu chỉ nghĩ đến chính mình, coi mình là trung tâm, ngay cả trong việc anh ta dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Anh ta chẳng hề xin ơn tha thứ vì anh ta không nghĩ rằng mình có tội; anh ta không cảm thấy mình nợ nần gì Thiên Chúa.

Anh ta, như thế, là nạn nhân của chính sự "sốt sắng đạo đức" của mình, một sự "sốt sắng đạo đức" đã đẩy anh ta đến chỗ đánh mất khả năng nhận ra mình là tội nhân và đánh mất khả năng hướng cuộc đời mình về Thiên Chúa đích thật.

Điểm xuất phát của người Pharisêu thật tốt lành, nhưng chính những điều tốt mà anh ta thực hiện được, lại đã đẩy anh ta đến chỗ tự tại nơi mình trước Nhan Thiên Chúa, ngạo mạn trong cái nhìn về tha nhân và mù quáng không nhận ra những lời mời gọi tích cực trong lệnh truyền và thánh ý của Thiên Chúa.

Trái lại, điểm xuất phát của người thu thuế trong dụ ngôn là một điểm tiêu cực. Anh thật sự là một kẻ tội lỗi. Anh không thể biện minh cho hành động tội lỗi mà anh đã phạm. Và trong lời cầu nguyện cũng như trong thái độ của mình, anh đã diễn tả một cách đánh giá đúng đắn về con người và hành động của mình.

Là con người tội lỗi, anh ý thức sâu sắc về tình trạng tội lỗi của chính mình và mong mỏi, tìm kiếm sự hòa giải với chính Thiên Chúa.

Anh hoàn toàn phó mình cho Thiên Chúa, tuyên xưng rằng mình hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa và van xin Người thương xót thứ tha.

Anh đã đặt mình vào trong một thái độ và cách hành xử đúng đắn, một cách hành xử tôn vinh Thiên Chúa vì cho phép Thiên Chúa có thể ban tặng chính mình Ngài cho anh một cách hoàn toàn nhưng không.

Chính vì thế, anh được trở nên công chính.

Rõ ràng có thể nói, đi xa hơn một thái độ trong khi cầu nguyện, bài Tin Mừng đề cập đến những thái độ sống của chúng ta trước Nhan Thiên Chúa và cho thấy đâu là yếu tố làm cho chúng ta được nên công chính thật sự.

“Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,14).

Một Tình Yêu Không Thể Tin Được

Lm. PX. Vũ Phan Long, ofm

Đứng trước mạc khải vĩ đại và trực tiếp của bản văn Gioan về Thiên Chúa, chúng ta không còn có thể tránh né mà nói rằng Thiên Chúa chỉ là một sức mạnh mơ hồ và xa cách với chúng ta.

1.- Ngữ cảnh và Bố cục

Sách các Dấu lạ của TM IV (2,1–12,50) nói về các dấu lạ lồng vào một cái khung thời gian nhằm giới thiệu chân tính của Đức Giêsu, là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu với Nicôđêmô (3,1-21) nằm trong phần đầu (2,1–4,54), phần này có bố cục như sau:

A (2,1-11.12) : Khởi đầu các dấu lạ tại Cana miền Galilê: biến nước thành rượu (c. 12 là câu chuyển tiếp [nói về thời gian và không gian]sang đoạn sau).

B (2,13-22.23-25 +) : Thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem và đối thoại với người Do-thái về Đền Thờ mới (cc. 23-25 là những câu “làm cầu” nối 2,13-22 với 3,1-21).

C (2,23-25; 3,1-21) : Đối thoại với Nicôđêmô về việc sinh bởi trên cao và diễn từ về việc có sự sống vĩnh cửu.

C’ (3,22-36; 4,1-3 +) : Đối thoại của Gioan Tẩy Giả với các môn đệ ông về chú rể đến từ trên cao và diễn từ về sự sống (Đoạn 3,22-24 là dẫn nhập chuyển tiếp. Đoạn 4,1-3 là những câu “làm cầu” nối [vì kết] 3,22-36 với [vì chuẩn bị cho] 4,4-42; đoạn này minh nhiên quy chiếu về 3,22-23 và hướng tới 4,43-45).

B’ (4,1-3.4-42) : Đối thoại với người phụ nữ Samari về việc có nước hằng sống và việc phụng tự đích thật.

A’ (4,43-45.46-54) : Dấu lạ thứ hai tại Cana miền Galilê: chữa con trai một quan chức nhà vua (cc. 43-45 là đoạn chuyển tiếp [nói về thời gian và không gian] từ 4,4-42 sang 4,46-54).

Chúng ta thử xác định cấu trúc của phân đoạn 3,1-21 (nhờ đó, có thể biết vị trí của cc. 14-21). Về hình thức bản văn, chúng ta ghi nhận rằng Nicôđêmô có nói ba lần ở cc. 2, 4 và 9. Đáp lại ba câu nói của ông, Đức Giêsu trả lời bằng công thức long trọng, “Thật, tôi bảo thật ông” (cc. 3, 5 và 11; đi trước c. 11 là một nhận xét đối-thủ-luận [ad hominem]). Ba câu trả lời của Đức Giêsu cứ mỗi lần mỗi dài hơn. Về phương diện tư tưởng, có những liên hệ đến Ba Ngôi: các lời Đức Giêsu nói ở cc. 3-8 liên hệ đến vai trò của Thần Khí; những lời ở cc. 11-15 liên hệ đến Con Người; những lời ở cc. 16-21 liên hệ đến Thiên Chúa Cha. Nếu tổng hợp hai phương diện hình thức và tư tưởng, chúng ta có thể xác định bố cục của 3,1-21 như sau:

* Câu 3,1: Dẫn nhập cho toàn bài (nối 2,23-25 với ch. 3).

1. Phân đoạn 1 (cc. 2-8): Sinh ra bởi trên cao nhờ bởi Thần Khí là điều cần thiết để được đi vào trong Nước Thiên Chúa; sinh ra bởi tự nhiên thì không đủ.

(a) cc. 2-3: Câu hỏi và câu trả lời đầu tiên: sự kiện sinh ra bởi trên cao.

(b) cc. 4-8: Câu hỏi và câu trả lời thứ hai: cách thức sinh ra – nhờ bởi Thần Khí.

2. Phân đoạn 2 (cc. 9-21): Tất cả những điều này chỉ có thể có được khi Con đã lên cùng Cha, và điều này chỉ được ban cho những ai tin vào Đức Giêsu.

- cc. 9-10: Câu hỏi và câu trả lời thứ ba dẫn nhập vào toàn phân đoạn.

(a) cc. 11-15: Con phải lên cùng Cha (để ban Thần Khí).

(b) cc. 16-21: Tin vào Đức Giêsu là điều cần thiết để được hưởng nhờ ân huệ này.

Theo R.E. Brown, tác giả TM IV đã để lại một vài dấu chỉ giúp khám phá ra lược đồ ngài theo để tổ chức bản văn.

Phân đoạn 1 bắt đầu với lời khẳng định của Nicôđêmô: “Chúng tôi biết Thầy là một vị tôn sư” (c. 2); câu này được đặt trong thế cân bằng với mở đầu của Phân đoạn 2 với lời Đức Giêsu, “Ông là bậc thầy (tôn sư) trong dân Israel, … chúng tôi nói những điều chúng tôi biết” (cc. 10-11).

Ngoài cách bố cục thành hai phân đoạn, dường như toàn bài được viết theo kỹ thuật đóng khung (bằng các ý tưởng cùng một trường ngữ nghĩa):

(a) Bản văn bắt đầu với việc Nicôđêmô đến với Đức Giêsu ban đêm; bản văn kết thúc với  đề tài người ta phải bỏ bóng tối để đến với ánh sáng.

(b) Nicôđêmô mở đầu cuộc đối thoại bằng cách chào Đức Giêsu là vị tôn sư từ Thiên Chúa mà đến; phần cuối của bản văn cho thấy rằng Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa (c. 16) mà Thiên Chúa đã sai đi vào trong thế gian (c. 17) như là ánh sáng cho thế gian (c. 19).

(c) Nếu chúng ta coi 2,23-25 như là phần mở đưa vào “xen” Nicôđêmô, chúng ta lại có một bản văn đóng khung khác: ở 2,23, chúng ta đã nghe nói đến những người “đã tin vào danh Người”, nhưng niềm tin của họ không thỏa đáng vì họ không đến để thấy Người là ai; ở 3,18, chúng ta thấy lời Đức Giêsu nhấn mạnh rằng ơn cứu độ chỉ được ban cho những ai “tin vào danh của Con Một Thiên Chúa”. 

2.- Vài điểm chú giải

- Như ông Môsê đã giương cao con rắn (14): Câu này nhắc đến Ds 21,9tt.

- ai tin vào Người thì được sống muôn đời (15): Câu này tương ứng với Ds 21,8: “Ai nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống”.   

- Thiên Chúa yêu thế gian (16): Động từ agapaô ở thì quá khứ aorist (êgapêsen) nhắm diễn tả hành vi yêu thương tuyệt đỉnh của Thiên Chúa. Có thể nói ở đây chúng ta có một ví dụ tuyệt hảo về động từ agapaô được diễn tả ra thành hành động, bởi vì c. 16 nói đến tình yêu Thiên Chúa được bày tỏ ra trong cuộc Nhập Thể và cái chết của Chúa Con.

- đã ban (16): Đông từ didomi không chỉ nhắm đến cuộc Nhập thể (Thiên Chúa gửi Con vào trần gian; c. 17), nhưng nhắm đến cả cuộc đóng đinh (trao nộp cho chết: “giương cao” trong cc. 14-15). Như thế, động từ này tương tự với paradidomi, “trao nộp”, ở Rm 8,32; Gl 2,20; và didomiGl 1,4.

- Thiên Chúa sai Con (17): Động từ apostellô này song song với “ban” (didomi) ở c. 16. Khi nói về Đấng Bảo Trợ, cũng có cặp động từ này, “sai” và “ban” ở 14,16.26. Gioan dùng hai động từ có nghĩa là “sai phái” có vẻ không phân biệt: pempô (26 lần) và apostelô (18 lần).

- Con (17): Từ “Con” ở dạng tuyệt đối (không có túc từ đi theo) trong Ga thì hầu như song song với  cụm từ “Con Người” theo truyền thống Nhất Lãm.

- không phải để lên án thế gian (17): Câu này xác định mục tiêu của sứ mạng Chúa Con đảm nhận khi được gửi vào trần gian: không phải để lên án, nhưng để cứu độ (x. Ga 4,42; 1 Ga 4,14). Thế nhưng ở 9,39, Đức Giêsu lại khẳng định: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử”. Điều duy nhất Thiên Chúa muốn, đó là cứu độ thế gian; nhưng biến cố Con của Ngài đến cũng nhất thiết đưa loài người đến chỗ phải lấy quyết định; quyết định trọng yếu nhất của đời người, là gắn bó với Con Một Thiên Chúa (c. 18) bằng đức tin, hoặc ngược lại, từ chối tin vào Người.

- được cứu độ (17): So sánh với c. 16, ta hiểu “được cứu độ” ở đây có nghĩa là “được sống muôn đời” (x. 1 Ga 4,14; Ga 12,47).

- vì đã không tin (18): Mê pepisteuken ở thì hoàn thành (perfect) có nghĩa là “đã và vẫn không tin”, một thái độ cứng lòng tin kéo dài.

- tin vào danh (18): “Danh” chính là bản thân Đức Giêsu.

- làm điều ác (20): Kiểu dùng động từ “làm” với “điều tốt”, “sự thật”, hoặc “điều xấu” (xem cc. 20.21) là một kiểu nói Sê-mít.    

3.- Ý nghĩa của bản văn

* Con phải lên cùng Cha (11-15)

Qua những lời đối thoại giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô, ta biết rằng để được tham dự vào Nước Thiên Chúa, phải có một khởi đầu hoàn toàn mới, do Thiên Chúa ban trong bí tích Rửa Tội, nhờ quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa. Ở trong khởi đầu mới này, chúng ta không được thụ động, trái lại phải tin vào Con Thiên Chúa (x. 1 Ga 5,1). Thế nhưng đức tin chẳng phải là chuyện của con người. Đức Giêsu cho thấy rằng đức tin phải dựa trên bằng chứng tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta khi sai phái Con của Ngài đến. Cuộc tái sinh bởi Thiên Chúa và lòng tin vào Con Thiên Chúa đưa chúng ta đạt tới ý nghĩa và sự viên mãn của cuộc sống chúng ta, đưa đến sự sống đích thực không qua đi. Không có hai điều này, chúng ta sẽ sai lầm về ý nghĩa của chính bản thân chúng ta.

Làm thế nào để tránh khỏi cái chết thảm thương và bảo đảm cho cuộc sống chúng ta? Israel đã đứng trước những câu hỏi này khi mà trên đường băng qua sa mạc, họ bị rắn độc đe dọa (x. Ds 21,4-9). Thiên Chúa đã ra tay cứu trợ Dân Ngài. Ngài đã bảo Môsê đúc một con rắn đồng và treo vào cán cờ; ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng ấy thì được sống. Thiên Chúa vẫn trợ giúp chúng ta. Khi con người phạm tội, Thiên Chúa đã đặt định rằng Đấng Chịu Đóng Đinh là biểu tượng của ơn cứu độ, là nguồn mạch đưa tới sự sống. Đàng sau Đấng Chịu Đóng Đinh là chính Thiên Chúa. Ngài đã ban và sai Con của Ngài đến vì yêu thương toàn thể nhân loại, để họ được cứu độ. Tình yêu của Thiên Chúa có một cường độ và một chiều kích to lớn đến nỗi, nếu có thể, hẳn ta phải nói: Thiên Chúa yêu thương thế gian, yêu thương chúng ta, hơn chính Con của Ngài. Ngài không bỏ mặc thế gian, mà lại còn ban cho chúng ta món quà là Người Con vẫn sống trong một tương quan duy nhất với Ngài.

* Tin vào Đức Giêsu là điều cần thiết (16-21) 

Thiên Chúa bày tỏ một sự ân cần lạ lùng đối với loài người chúng ta, Ngài quan tâm giúp chúng ta thành công trong cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta vẫn ở trong tình trạng bấp bênh: Thiên Chúa không cung cấp ơn cứu độ không cần chúng ta, hoặc là ngược lại với ý muốn của chúng ta. Chúng ta phải mở ra với sự ân cần của Thiên Chúa, phải trân trọng tình yêu lạ lùng ấy, phải tin vào Con Thiên Chúa chịu đóng đinh. Chỉ khi chúng ta xác tín rằng Đấng chịu đóng đinh là Con Một, Con yêu dấu của Thiên Chúa, thì quyền năng của tình yêu này của Thiên Chúa mới có thể thực sự đến với chúng ta và chúng ta mới có thể hoàn toàn mở ra với ánh sáng và sức nóng của Người. Đời sống chúng ta tùy thuộc đức tin của chúng ta.

Điều cần thiết này có vẻ hiển nhiên. Tuy thế, có một hiện tượng lạ lùng, đó là loài người lại ưa thích bóng tối hơn ánh sáng (c. 19). Có những lý do để trốn tránh ánh sáng và tìm lá chắn là bóng tối; những lý do này nằm nơi lối sống của con người. Ai làm điều ác thì tự nhiên tránh ánh sáng; ai làm điều thiện thì mới dám ra trước ánh sáng, người ấy không có gì phải che giấu. Chúng ta không thể coi nhẹ tầm quan trọng của hành động để bày tỏ đức tin. “Điều thiện”, đó là những gì chúng ta làm theo ý Thiên Chúa (c. 21), bằng cách lắng nghe Ngài, chân thành tìm cách thi hành ý muốn của Ngài. “Điều ác” là những gì chúng ta làm không theo các tiêu chí đó, khi chúng ta không tìm Thiên Chúa, nhưng ích kỷ tìm cách thực hiện các chương trình và ý muốn của riêng mình, thậm chí ngược lại với ý Thiên Chúa. Ai chỉ tìm chính mình, thì khép lại với Thiên Chúa và gặp nguy cơ là cũng cứ khép lại không nhận được mạc khải xán lạn về tình yêu của Ngài. Không nghiêm túc quan tâm đến ý muốn của Thiên Chúa, làm sao có thể tin vào tình yêu của Ngài? Chính tình yêu ấy lại càng đưa người ấy xa rời khuynh hướng ích kỷ và làm cho người ấy càng cảm nhận rằng mình hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa! Ai luôn duy trì một dây liên kết với Thiên Chúa, thì mở ra với ánh sáng của tình yêu Ngài. 

+ Kết luận

Chỉ trong mấy câu Ga 3,14-21, tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi đối với loài người được khẳng định với sự tha thiết lạ lùng và điều kiện phải theo để được hưởng nhờ tình yêu đó cũng được xác nhận hết sức rõ ràng. Đứng trước mạc khải vĩ đại và trực tiếp này về Thiên Chúa, chúng ta không còn có thể tránh né mà nói rằng Thiên Chúa chỉ là một sức mạnh mơ hồ và xa cách với chúng ta. Đức Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đinh, cũng không phải chỉ là một tư tưởng hay một lý thuyết, một giả thuyết hoặc một chuyện hão huyền trên mây trên gió, mà là một thực tại lịch sử đích thực. Do đó, tình yêu của Thiên Chúa rất thực hữu!        

4.- Gợi ý suy niệm

1. Nói đến tình yêu là nói đến sự quan tâm, sự thông dự, sự ân cần, chăm sóc, nỗ lực, vận dụng mọi sự. Tình yêu muốn điều hay điều tốt cho người mình thương. Người ấy không dửng dưng với con đường và định mệnh của người yêu, nhưng ra sức làm cho người kia được sống trong niềm vui và sự viên mãn. Đối với Thiên Chúa thì sao? Phải chăng Ngài đã tạo thành thế giới rồi bỏ mặc nó? Ngài có quan tâm đến chúng ta và đến định mệnh chúng ta không, Ngài có để ý xem chúng ta thế nào và chúng ta đi đến đâu không? Thiên Chúa đã tạo thành chúng ta, đã quan tâm đến số phận của chúng ta, đã ban Người Con Một để chúng ta được sống viên mãn ngay từ bây giờ. Chúng ta có giá đối với Thiên Chúa đến mức Ngài sẵn sàng hy sinh Con vì chúng ta (x. Rm 8,32).

2. Sau cuộc tạo dựng, sau Lề Luật, các Ngôn sứ và tất cả những hình thái ân cần săn sóc khác, Chúa Con là tiếng nói cuối cùng và ân huệ có giá trị tối cao được Thiên Chúa ban cho chúng ta. Người Con sẽ quan tâm đến chúng ta riêng tư từng người, sẽ chỉ cho từng người biết con đường đưa tới ơn cứu độ, sẽ đưa ta đến chỗ hiệp thông với Người và đi đến cuộc sống muôn đời. Đức Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đinh, không phải là một tư tưởng hay là một lý thuyết, một giả thuyết hay một chuyện tưởng tượng, nhưng là một thực tại lịch sử đích thực. Từ đó, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng tình yêu của Thiên Chúa cũng hết sức hiện thực.

3. Thiên Chúa, “một” (độc thần) mà cũng là “ba” (ngôi), là một mầu nhiệm rất lớn lao, mà chúng ta chẳng bao giờ ngờ tới, nếu chính Thiên Chúa không mạc khải cho chúng ta nhờ trung gian Đức Kitô. Chúng ta phải tuyên xưng các dữ kiện của mầu nhiệm này, và tiếp cận bằng những bước rất giới hạn và phiến diện, đồng thời tin tưởng tuyệt đối vào giáo huấn của Đức Giêsu Kitô.

4. Bản văn không nói trực tiếp đến Chúa Thánh Thần, nhưng chúng ta đã được mạc khải rằng Thiên Chúa và Đức Giêsu cứu độ chúng ta bằng cách ban Thánh Thần cho chúng ta (Ga 7,37-39; x. Gl 4,4-7). Dù sao mẩu đối thoại với Nicôđêmô cũng đã cho thấy những cái mốc: não trạng thiêng liêng do Thánh Thần ban cho. Thánh Thần đối nghịch lại với xác thịt (Ga 3,6), với những cái nhìn trần tục (3,12). Thiên Chúa Cha gửi Con Một của Ngài đến với chúng ta, để Người Con cứu chúng ta bằng cách thông ban Thần Khí. Và chính Thần Khí giúp ta đi lên với Chúa Cha nhờ trung gian Đức Kitô (x. Gl 4,4-7; Rm 8,15-17).    

“AI KHÔNG ĐI VỚI TÔI LÀ CHỐNG LẠI TÔI” (Lc 11,23)

Lm. Giuse Ngọc Huỳnh

Đức Giêsu tuyên bố:

"Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán” (Lc 11,23).

Rất nhiều người “bực mình” về lời tuyên bố này, vì nó có vẻ cực đoan, quá cứng nhắc, thiếu bao dung, đầy tính loại trừ và thậm chí đáng bị coi là “hợm hĩnh”!

Thực ra, ý nghĩa sâu xa của lời tuyên bố này là sự khẳng định về tính cách triệt để và quyết liệt của sự chọn lựa mà người ta phải đưa ra khi thực sự đối diện với Đức Giêsu Kitô. Không có chỗ cho một lập trường ba phải, nước đôi, lập lờ hay “giải thích thế nào cũng được”.

Nền tảng của tính triệt để và rạch ròi đó, là ở chỗ: Đức Giêsu Kitô chính là Lời tối hậu, quyết định, chung cục và viên mãn của Thiên Chúa ngỏ với nhân loại và với từng người. Như thánh Phêrô quả quyết trước Thượng Hội đồng Do Thái: “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).

Đứng trước Lời tối hậu và quyết định như thế, quả thực, không thể có chọn lựa nước đôi. Hoặc bạn đi cùng Đức Kitô, hoặc ngược lại! Hoặc bạn cùng người thu góp, hoặc ngược lại! Không có lối nẻo thứ ba!

Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề quan trọng: khi chọn lựa, người ta có thực sự đối diện với Đức Giêsu Kitô hay không, hay chỉ là một hình ảnh méo mó về Người? Hình ảnh méo mó đó có thể do chúng ta, các Kitô hữu, trình bày sai về Chúa Kitô, hoặc cũng có thể vì người nghe hiểu sai những gì Hội Thánh trình bày...

Vì thế, không nên dễ dàng và vội vã kết luận về tình cảnh của bất cứ ai, rằng họ đang đi với Đức Giêsu Kitô hay đang chống đối Người, rằng họ đang cùng Người thu góp hay đang phân tán...

Điều quan trọng là:

1. Chúng ta phải ý thức về tính cách triệt để, dứt khoát và quyết liệt trong chọn lựa của mình khi đối diện với Đức Giêsu;

2. Chúng ta phải làm hết sức để dung mạo của Đức Giêsu, Lời tối hậu và quyết định của Thiên Chúa dành cho nhân loại, không bị trở nên méo mó và dị dạng đối với thế giới.

THẦY ĐẾN ĐỂ KIỆN TOÀN (Mt 5,17-19)

Lm. Giuse Ngọc Huỳnh

Đức Giêsu nói: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ (καταλύω) Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ (καταλύω), nhưng là để kiện toàn (πληρόω). Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5,17-18).

1. Giải thích một vài từ ngữ

“Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ” là cách người Do Thái gọi bộ Kinh Thánh của họ, tức là bộ Cựu Ước theo quan điểm Kitô giáo.

Động từ καταλύω có nghĩa là “phá đổ” (một công trình xây dựng chẳng hạn), chứ không có nghĩa là bãi bỏ một điều luật. Trong Mt, động từ này luôn được dùng cho đền thờ (x. 24,2; 26,61; 27,40).

Động từ “kiện toàn” (πληρόω) trong Mt được sử dụng để chỉ sự thực hiện các sấm ngôn (x. 1,22; 2,15.17.23; 4,14; 8,17…). Vì thế, cách nói “kiện toàn lời các ngôn sứ” ở đây là dễ hiểu. Nhưng không chỉ lời các ngôn sứ được kiện toàn, mà cả “Luật Môsê” nữa, tức là những gì do Môsê viết.

2. Ý nghĩa

Đức Giêsu không đến để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện trong Sách Thánh. Người thực hiện và đưa đến mức độ viên mãn tất cả những gì Thiên Chúa đã hứa trong Sách Thánh.

Và Người quả quyết: dẫu “một chấm một phết” (dịch sát là “một chữ i hoặc một cái sừng”, tức là chữ yod, mẫu tự nhỏ nhất trong bảng chữ cái Hípri) cũng sẽ không mất hiệu lực. Nói cách khác, ngay cả những chi tiết nhỏ nhất trong chương trình của Thiên Chúa được mạc khải trong Sách Thánh cũng sẽ vẫn giữ nguyên hiệu lực “cho đến khi mọi sự được hoàn thành”.

3. Suy niệm

a. Sứ mạng của Chúa Giêsu là một sứ mạng tích cực, chứ không phải một sứ mạng tiêu cực. Người là điểm đến của tất cả Cựu Ước, và toàn thể Cựu Ước tìm được sự kiện toàn nơi Người và nhờ Người.

b. Vì thế, mọi điều chúng ta đọc thấy trong Cựu Ước sẽ chỉ được hiểu đúng nếu chúng ta quy chiếu về Chúa Giêsu. Việc giải thích Cựu Ước tách khỏi mầu nhiệm Chúa Kitô là việc làm không chính xác.