Get Adobe Flash player

Lễ Truyền Tin, Lễ Trọng

"Lịch Rôma đã mừng lễ Ngôi Lời nhập thể với danh hiệu gọi từ xa xưa là "Truyền tin" của Chúa, nhưng lễ này từ xưa và hiện nay vẫn là lễ mừng Chúa Kitô và Mẹ Ngài : Ngôi lời đã trở thành "Con của Đức Maria" (Mc 6,3) và Maria trở thành Mẹ Chúa Trời".

"Phụng vụ phong phú của Đông và Tây phương, đối với đức Kitô, đã mừng lễ Truyền Tin, nhằm nhắc lại tiếng "Xin vâng" cứu rỗi của Ngôi Lời nhập thể, lúc bước vào đời đã nói: "Lạy Thiên Chúa, này con xin đến để thi hành thánh ý Người" (Dt 10, 7 và Tv 39,8-9), lễ này cũng kính nhớ giây phút đầu của ơn cứu chuộc với sự kết hợp chặt chẽ, bất khả phân ly giữa thiên tính và nhân tính trong một Ngôi Lời".

"Lễ Truyền Tin đối với Đức Maria: một Evà mới, trung thành và vâng phục với lời "Xin vâng" quảng đại (Lc 1,38) do Đức Chúa Thánh Thần. Maria trở thành Mẹ Chúa Trời và là mẹ của mọi người. Maria cũng là hòm bia giao ước và Đền thờ Thiên Chúa bởi Mẹ cưu mang Đấng trung gian duy nhất. Lễ Truyền Tin kính nhớ sự tự do chấp nhận sự hợp tác với kế hoạch cứu rỗi Đức Maria" (Marialis culitus 6b)

Như vậy biến cố Truyền Tin. Diễn ra âm thầm giữa sứ thần Gabrie với Đức Trinh Nữ Maria (Lc 1,26-28) đã mang đến cho toàn thể gia đình nhân loại một Tin vui lớn lao. Nhân loại không còn chìm ngập trong bóng tối sự chết nữa, bởi vì lời hứa cứu độ (St 3,15), nay "Vào thời sau hết, Thiên Chúa đã nói với ta nơi một người con" (Dt 1,2). Biến cố cứu rỗi này kết hợp bởi hai lời "Xin vâng" tự đời đời của Ngôi Con Thiên Chúa "xin đến để thi hành thánh ý Thiên Chúa" và trong thời gian của Đức Maria sẵn sàng cộng tác "như lời thiên thần truyền" (Lc 1,38).

+ Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Ngôi Lời của Chúa mặc lấy xác phàm trong lòng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a để cứu độ loài người. Này chúng con tuyên xưng Ðấng Cứu Ðộ là Thiên Chúa thật và là người thật, xin cho chúng con cũng được thông phần bản tính Thiên Chúa của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Thánh Cyrillô, Đan Sĩ Và Thánh Mêtôđiô, Giám Mục, Lễ Nhớ

Cyrillô và Mêtôđiô thuộc về một gia đình nghị viện miền Thessalônica. Triều đình đã muốn xem người con trưởng sáng sủa xinh đẹp như thần đồng. Nhưng đối với anh sự khôn ngoan đáng quí chuộng hơn mọi hư danh trần thế. Người con út có tính cách vừa trầm tư vừa hung hăng hay lý sự. Sau khi theo học tại Constantinople, hai anh em đều chiếm giữ những chức vụ thuộc dân sự. Cyrillô làm giáo sư triết học. Sau cùng thì lần lượt họ đạt tới lý tưởng làm linh mục.

Nhà vua Moravia xin hoàng đế gửi các thừa sai tới. Vì biết tiếng Slave nên hai anh em đã được chọn. Các Ngài đã phát minh ra mẫu tự Slave sau này được mọi người đón nhận. Cyrillô còn học tiếng Hipri để tranh luận với người Do thái. Hai anh em thừa sai vừa tham gia công tác chính trị vừa tham gia hoạt động tôn giáo. Các Ngài tổ chức Kitô giáo ở Bulgaria, Moravia và những nơi người Slave hiện diện.

Các giám mục Đức chống lại việc nhà truyền giáo đã đưa ngôn ngữ Slave vào phụng tự mà các Ngài coi như dụng cụ tuyệt hảo trong công cuộc chinh phục của mình. Hai anh em phải đi Rôma để biện minh cho mình và được Đức Nicola I ưng thuận. Vị kế nhiệm Ngài còn tấn phong Ngài làm giám mục nữa. Cyrillô đã qua đời tại Rôma năm 869 lúc 42 tuổi.

Mêtôđiô còn sống thêm hai mươi năm để truyền giáo cho các dân tộc Slave. Ngài chịu đau khổ nhiều, bị một thẩm đoàn giám mục miền Bavière tố cáo lạc giáo và bị giam giữ hai năm trong một nơi xa vắng lạnh lẽo. Ngài lại bị mang ách, luôn bị bách hại, bị tố cáo tới Rôma là đã làm sai lạc đức tin. Hai lần ngài phải đi biện minh với Đức Thánh Cha và Đức Thánh Cha đã coi những lời tố cáo là hư từ. Hoàng đế Basiliô xin ngài đi Constantinople là nơi ngài được tiếp đón nồng hậu. Cũng vị vua này đã muốn gửi ngài trở lại Russi và Bulgaria, nhưng thánh nhân trở lại Moravia và qua đời tại đó năm 885.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã dùng hai anh em thánh Cyrillô và thánh Mêtôđiô để đưa các dân tộc Slave tới ánh sáng Tin Mừng. Xin mở lòng chúng con đón nhận Lời Chúa dạy, và biến đổi chúng con thành dân riêng của Chúa, luôn đồng tâm nhất trí với nhau để sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Thánh Scolastica, Trinh Nữ, Lễ Nhớ

Thánh Scolastica là em gái thánh Benêdictô, tổ phụ của những đời sống khổ tu bên Tây phương. Ngài còn được nối kết với thánh nhân như người em sinh đôi, nhưng không chắc chắn lắm. Chúng ta biết được chút ít về đời sống của thánh nữ là do cuốn Dialogue, tập hai, của thánh Grêgôriô cả, cuốn sách ghi lại đời sống thánh Bênêdictô và các phép lạ của Ngài.

Như anh của Ngài, thánh nữ Scolastica đã được sinh ra tại quận Sabina miền Nursia và cha mẹ Ngài được giả thuyết cho là những người dòng dõi quí phái tại miền quê.

Khi còn rất trẻ, Scolastica đã đi tu dòng kín và trong những năm cuối cùng đời Ngài, chúng ta thấy Ngài sống gần Montê Cassinô, để có thể gặp được anh mình mỗi năm một lần.

Khi thánh Bênêdictô thiết lập tu viện tại Montê Cassinô, Scolastica cùng với các trinh nữ quây quần bên Ngài đã đến ở bên núi, lập thành tu viện Palumbariola, Ngài đặt mình dưới sự hướng dẫn của anh, vì Ngài biết rằng: không ai có thể hướng dẫn các linh hồn về trời cách chắc chắn hơn. Nhưng Ngài không muốn quấy rầy anh mình nhiều và chỉ gặp anh mỗi năm một lần vào trước mùa chay, trong một trang trại của tu viện ở miền núi. Một nguyện đường đã được dựng lên tại đây để ghi nhớ những giây phút thánh thiêng mà thánh Bênêdictô khai sáng cho em mình nhận thấy ánh sáng thần linh. Ngài thụ lãnh được và dạy dỗ em mình đường trọn lành của tu sĩ trong thống hối và yêu thương.

Nhưng lần ấy họ đã trải qua một ngày để khen ngợi Chúa và cầu xin hạnh phúc trên trời, bên ngoài khí trời tươi mát vì đã vào xuân, bầu trời trong sáng lạ thường, thánh Scolastica say sưa cảm nếm hương vị của câu chuyện đàm thọai trong khi màn đêm buông xuống dần... lúc đó thánh Scolastica nói với thánh Bênêdictô:

- Anh ơi trời khuya rồi, làm sao anh về được. Thôi mình tiếp tục nói chuyện tới sáng về niềm vui cuộc sống trên trời đi. Thánh Bênêdictô trả lời:

- Em nói gì vậy, anh không thể nhận lời em được. Anh không thể ở qua đêm ngoài nhà dòng được đâu.

Thánh Scolastica dấu mặt vào lòng bàn tay và khóc nức nở. Ngài nói với Chúa ước muốn êm ái của lòng mình. Và Thiên Chúa là đấng đã chúc phúc cho cả một cuộc sống hiến dâng, lại sắp gọi thánh nữ về với mình, nên như người cha chiều con, Chúa đã muốn ban cho thánh nữ niềm an ủi dịu dàng cuối cùng. Một trận cuồng phong nổi lên. Mưa đổ xuống như thác lũ với sấm sét dữ dằn. Chẳng ai còn có thể nghĩ tới việc ra đi nữa. Thánh Bênêdictô bối rối, Ngài nói:

- Này em, em làm gì vậy ?

Thánh Scolastica êm ái trả lời:

- Em đã xin anh, nhưng anh chẳng muốn nghe em. Em đã cầu xin Chúa và Ngài đã nhận lời. Bây giờ nếu có thể được, anh hãy về nhà dòng đi.

Lúc ấy thánh Bênêdictô cảm tạ lòng thương xót Chúa, Ngài tiếp tục nói chuyện về hạnh phúc đang chờ đón những người Chúa chọn. Lời Ngài dâng cao như những tia sáng.

Đến sáng cơn giông ngừng. Anh em mỗi người một ngả và không còn gặp nhau trên trần gian này lần nào nữa.

Ba ngày sau, khi thánh Bênêdictô đang đứng bên cửa sổ đã thấy linh hồn em mình bay lên như cánh chim câu, phủ đầy ánh sáng thiên đàng. Say mê với thị kiến này, Ngài cất cao giọng hát bài thánh ca. Đó chính là lúc thánh Scolastica êm ái trút hơi thở trong tu viện mình. Thánh Bênêdictô sai các tu sĩ đi tìm xác em để chôn trong ngôi mộ dọn sẵn cho mình.

Một tháng sau nhà ẩn tu vĩ đại cũng từ giã cõi thế để hợp với thánh Scolastica trong hạnh phúc của các thánh nhân mà họ đã tha thiết khơi dậy.

+ Lời nguyện

Lạy Chúa, hôm nay chúng con mừng lễ thánh Scolastica. Xin cho chúng con theo gương người để lại, biết hết lòng mến yêu tôn thờ Chúa, và cảm nghiệm tình thương Chúa ngọt ngào. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen

Thánh Phaolô Miki Và Các Bạn Tử Đạo, Lễ Nhớ

Thánh Phanxicô Xavier là nhà truyền giáo đã đem Tin Mừng cho nước Nhật. Nửa thế kỷ sau các Kitô hữu vẫn còn giữ đức tin của mình, khi năm1597 một cuộc bách hại bùng nổ dữ dội. Lúc ấy Hideyeshi, một viên chức có thế lực đã dựa vào tiếng la hét điên khùng của một thuyền trưởng Tây Ban Nha rằng, các thừa sai đang dọn đường cho cuộc chinh phục Nhật bản của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha để khích động cuộc bách hại. Vua Taicosme tin điều đó. Sáu linh mục dòng Phanxico bị bắt giữ cùng với những người Nhật thuộc dòng ba Phanxicô giúp việc truyền giáo.

Trong số những người Nhật này có ba thiếu nhi tuổi thừ 12 tới 15 là Luy, Antôn và Tôma Cosaki. Người ta đề nghị Luy nên trốn đi nhưng Luy từ chối. Em nói với cha mẹ đang khẩn khoản xin em chạy trốn cái chết : - Chúa sẽ cho con đầy đủ can đảm để chiến đấu.

Khi vị quan xét hứa ban cho em của cải, nếu em bỏ đạo. Em khinh bỉ tuyên bố : - Thánh giá tôi không sợ, vì tình yêu Chúa tôi còn ao ước nữa là khác.

Ba tu sĩ dòng tên góp vào sổ các vị tử đạo là : Phaolô Miki, Gioan Gottô và Giacôbê Kissi. Họ bị dẫn tới công trường Mêaco. Nhà vua truyền lệnh cắt mũi, cắt tai các tù nhân và cho xe chở qua các thành phố chính rồi đóng đính vào thập giá tại Nagasaki. Nhìn ba chứng nhân máu me bê bết, nhưng vẫn thản nhiên tươi cười, dân chúng cảm động. Các Kitô hữu phủ phục xin ban phép lành và trong cơn nhiệt hành, có người còn xin lính gác cho được lên chung một chiếc xe nữa mà không được. Phaolô Miki và Gioan Gott, bề trên dòng Phanxicô, vẫn rao giảng suốt dọc đường xe đi qua. Cuộc du hành thảm khốc chiếu tỏa ánh sáng tình yêu. Các vị tử đạo không ngừng cùng gọi các linh hồn trở về với Chúa.

Cuối cùng các vị đã tới đỉnh Calvê, nơi họ được đồng hóa với Đức Kitô, chính vì Ngài mà họ chịu chết. Trên một ngọn đồi quay ra biển, các cây thập tự đang chờ đợi họ.

Bé Luy hỏi xem cây thánh giá nào của mình. Em hăm hở chạy tới. Khi chịu đóng đinh, Em không dứt nụ cười.

Người ta nghe rõ một giọng nói nhiệt thành lặp lại lời người trộm lành : "Lạy Chúa xin nhớ đến con".

Một tu sĩ dòng Tên từ trên thánh giá, đã giảng bài cuối cùng và thêm : - Tôi tha thứ cho những người chủ mưu gây nên cái chết của tôi. Tôi khấn nguyện cho họ được lãnh phép rửa tội.

Bạn trẻ Antôn cố gắng dùng sức tàn để hát lên lời ca : Hỡi trẻ em hãy ca tụng Chúa. Nhưng Ngài đã không đủ thời gian để ca hết bài. Một lưỡi đòng đã đâm thủng tim Ngài.

Tất cả 26 vị được tôn phong hiển thánh năm 1862.

+ Lời nguyện

Lạy Chúa là nguồn sức mạnh của các thánh, Chúa đã gọi thánh Phaolô Miki và các bạn bước lên thập giá mà vào cõi trường sinh. Xin Chúa thương nhậm lời các ngài cầu thay nguyện giúp, mà cho chúng con hằng can đảm tuyên xưng đức tin và trung thành giữ vững cho đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Thánh Agata, Đồng Trinh Tử Đạo, Lễ Nhớ

Truyền thuyết cho rằng : thánh nữ Agata chào đời khoảng năm 230 tại Sicilia trong một gia đình quí phái có danh giá. Cha mẹ Ngài là những bậc nhân đức đã chuyên chú đào tạo Ngài từ thuở nhỏ nên người có đức tính vững mạnh và hướng chiều về sự thánh thiện. Bởi vậy theo các tài liệu viết về cuộc tử đạo của Ngài, thánh nữ đã quyết không kết hôn với một người nào khác ngoài Chúa Giêsu Kitô. Ngài kiên quyết hiến thân cho Thiên Chúa. Không một thú vui thế trần nào, lẫn những lời tán dương sắc đẹp của Ngài có thể làm cho Ngài quên lãng được lời đoan hứa.

Quintianô, quan cai trị Silicia hồi đó là một con người biển lận và dâm dật. Ông ta đã hy vọng có thể dùng sắc lệnh cấm đạo của nhà vua Đêciô để thỏa mãn tính biển lận và dâm dật của mình, sau khi biết đến sắc đẹp và sự giàu sang của Agata. Ông truyền bắt người trinh nữ đến toà xử tại Catana. Khi đưa thánh nữ tới, ông đã truyền giao Ngài cho một mụ chứa độc ác tên là Apjrodisia để mụ ta quyến rũ thánh nữ bỏ đời sống trinh khiết. Sau nhiều cố gắng mà vô hiệu, mụ chủ nhà chứa đành phải giao Thánh nữ lại cho Quintiano.

Giận dữ, Quintiano bắt giải Thánh nữ tới trước mặt ông. Ông nói : - Người như cô mà theo đuổi cuộc sống Kitô giáo. Cuộc sống nô l thấp hèn, cô không xấu hổ sao ?

Thánh nữ trả lời : - Tự do và danh giá thật là biết hết lòng phụng sự Chúa Giêsu Kitô.

Ông liền truyền đánh đòn thánh nữ rồi cho giam Ngài vào ngục thất. Hôm sau ông lại tiếp tục thẩm vấn. Lần này, trước sự cương quyết của thánh nữ, Quintiano không dằn nổi cơn giận. Ông đã truyền tra tấn thánh nữ một cách dã man đến độ xẻo bỏ cả một bên vú thánh nữ. Sau đó Agata bị bắt giam trở lại ngục thất và bị bỏ đói. Nhưng đêm đó thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành vết thương cho Agata. Một luồng sáng đã làm cho lính canh hoảng sợ bỏ chạy. Các bạn tù được dịp thoát thân. Họ khuyên thánh nữ trốn thoát, nhưng thánh nữ vẫn ở lại chờ lãnh triều thiên tử đạo.

Năm hôm sau, Quintiano ngạc nhiên khi thấy Agata lành bệnh. Ông truyền đốt một lò lửa. Agata bị ném vào than hồng. Trong khi đó một trận động đất dữ dội làm rung chuyển thành phố Catana. Dân chúng nghĩ rằng, chính vì cuộc hành hung Agata đã gây nên tai họa khủng khiếp này. Họ bày tỏ lòng bất mãn đối với Quintiano. Hoảng sợ ông truyền đem Agata tr lại ngục thất. Song những hành hạ thánh nữ phải chịu đã quá lớn đến nỗi chẳng bao lâu sau đó, Ngài đã tắt thở.

Cuộc tử đạo và lòng tôn sùng rất sớm đối với thánh nữ là những sự kiện lịch sử chắc chắn. Giáo hội vui mừng vì chí cuơng quyết bảo vệ đức trong sạch của thánh nữ. Cái chết và sự chiến thắng của thánh nữ Agata chứng tỏ Thiên Chúa đã chọn những yếu đuối để làm cho bọn gian tham và mạnh mẽ phải hổ ngươi.

Thánh nữ Agata là vị thánh bảo trợ của thành Catana, của các vú nuôi. Thỉnh thoảng người ta cũng kêu cầu Ngài trong lúc bị đau ngực và bị phỏng lửa.

+ Lời nguyện

Lạy Chúa, thánh nữ Agata đã luôn làm đẹp lòng Chúa, vì vừa sống cuộc đời kiên trinh vừa can trường hy sinh tử đạo, xin nhận lời thánh nữ chuyển cầu, mà ban cho chúng con được ơn tha thứ. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu Trong Đền Thánh, Lễ Kính

 Kể từ cuối thế kỷ IV, Giáo hội Gierusalem đã mừng kính lễ này, hướng tới việc dâng Chúa Giêsu vào đền thánh và việc thanh tẩy Đức Trinh Nữ. Giáo hội Hy Lạp và Milanô kể lễ này vào một số lễ trọng kính Chúa, một nghi lễ chính trong năm. Giáo hội Roma lại thường kể lễ này vào số các lễ Đức Trinh Nữ.

Trong thông điệp về lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria. Đức Phaolô VI viết : "Lễ mùng 2 tháng 2, được cải tên là lễ "dâng Chúa vào đền thánh", cũng cần nhắc nhở để hưởng nguồn phong phú lớn lao của ân sủng Chúa Giêsu và Maria đi song song. Đức Kitô thực hiện mầu nhiệm cứu độ. Maria mật thiết kết hợp với Chúa chịu khổ hình, để thực hiện một sứ mạng vừa thuộc về Dân Chúa của Cựu ước, vừa là hình ảnh của Dân Tân ước luôn luôn vị bắt bớ gian khổ, thử thách đức tin và lòng trông cậy" (Lc 2,21-35) (Marialis Cultur, số 7b).

Sự kiện dâng Chúa Giêsu vào đền thánh và thánh tẩy Đức Trinh Nữ đã được thánh sử Luca ghi lại (Lc 2,22-39). Sự kiện này nhằm thực hiện những lề luật đã được ghi rõ trong Cựu ước (Lv 12,8). Theo luật Môisê, phụ nữ sau khi sanh con thì bị coi là nhơ uế trong 40 ngày nếu sinh con trai và trong 80 này nếu sinh con gái. Trong những ngày ấy họ không được vào đền thờ và không được chạm đến vật dụng nào đã thánh hiến cho Thiên Chúa.

Hết những ngày kiêng cữ trên, họ đến đền thờ để được thanh tẩy. Họ phải mang theo một con chiên nếu là nhà giàu hay hai con chim gáy hoặc bồ câu non làm của lễ. Ngoài ra để ghi nhớ dịp vượt qua đất Ai cập. Lúc các con đầu lòng của loài người hay là của loài vật đều phải dâng cho Thiên Chúa (Xh 13,2). Vậy, trung tín với lề luật, Đức Maria và thánh Giuse "khi đã đầy ngày, lúc phải làm lễ tẩy uế cho các đấng theo luật Môsê, thì ông bà đem hài nhi lên Giêrusalem tiến dâng cho Chúa" và các Ngài "dâng làm lễ tế một cặp chim gáy hay hai con bồ câu" (Lc 2,22-24).

Như vậy sự kiện dâng Chúa Giêsu vào đền thánh diễn ra một cách bình thường dưới mắt người đời. Nhưng trong lịch sử cứu độ, đây là việc thực hiện lời tiên báo của tiên tri Malaki: "Thình lình sẽ đến nơi đền thờ của Người, vị Chúa tể mà các ngươi đòi hỏi, và thần sứ giao ước mà các ngươi ước nguyện, này vị ấy đến" (Ml 3,1). Chúa đã đến trong đền thờ Người. Bao nhiêu người đã ngóng chờ biến cố cứu độ này. Nhưng như chính tiên tri Malaki trước tự hỏi: "Ai chịu đựng nổi ngày Người đến ? Ai đứng vững được khi Người hiện ra ?" (Ml 3,2).

Dĩ nhiên khó ai nhận biết được Thiên Chúa, bởi vì Ngài đã mặc lấy vóc dáng con người như chúng ta. Phải có sự soi sáng của Thánh Thần mới biết được. Siméon và Anna là những người công chính và mộ đạo đã được hường đặc ân này. Được linh cảm, Siméon "đến đền thờ, khi cha mẹ bồng hài nhi Giêsu đến để làm theo điều lề luật dạy về Người" (Lc 2,27).

Am lấy Hài nhi trên tay, Siméon đã chúc tụng Chúa và nói:

"Mắt tôi đã thấy ơn Người cứu độ,
Người đ
ã dọn sẵn trước mặt muôn dân,
Anh sáng mạc khải cho dân ngoại
và vinh quang của Israel dân Người" (Lc 2,30-32)

Còn nữ tiên tri Anna, "không rời khỏi đền thánh, thờ Chúa đêm ngày trong chay kiêng và cầu nguyện. Vào giờ ấy, bà đã đến bên tán tạ Thiên Chúa và bà đã nói về Ngài cho mọi kẻ ngóng đợi phúc cứu chuộc của Gierusalem" (Lc 37-38).

Ngày lễ Dâng Chúa Giêsu vào đền thánh còn được gọi là lễ Nến. Hôm nay Giáo hội làm phép những cây nến và phân phát cho giáo dân. Cầm nến sáng trong tay và tiến vào thánh đường, mọi người lặp lại Thánh Ca mà tiên tri Siméon đã hát khi Đức Mẹ và thánh Giuse dâng Chúa Giêsu vào đền thánh. Chúa Giêsu quả là ánh sáng muôn dân, dẫn lối chúng ta vào trong cung điện Người. Những "cây nến phép" này sẽ được cất giữ trong các gia đình để dùng vào dịp lãnh các bí tích sau hết hay để thắp bên thi hài người quá cố trong gia đình.

+ Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Con Một Chúa đã mang kiếp người phàm và hôm nay được tiến dâng trong đền thánh. Chúng con khiêm tốn nài xin Chúa cho tâm hồn chúng con cũng trở nên trong sạch hầu xứng đáng dâng mình trước Thánh Nhan. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Thánh Gioan Boscô Linh Mục, Lễ Nhớ

Ngày 16 tháng 8 năm 1815, Gioan chào đời trong một túp lều tranh thuộc tỉnh Turinô. Cha Ngài qua đời lúc Ngài được hai tuổi. Mẹ Ngài là bà Magarita một mình nuôi nấng ba người con trai. Bà tập cho con quen với công việc nặng nhọc, với đời cầu nguyện. Bà thường lập lại với các con bà : - Chúa thấy hết, Chúa thấy hết.

Và con cái bà biết rằng chính nhờ tình yêu mà Người ta làm đẹp lòng Chúa, Gioan sau này sẽ nói : - Nếu tôi trở thành linh mục đó là nhờ mẹ tôi.

Cậu bé đã tỏ ra có ơn gọi làm tông đồ. Ngoài đồng cỏ, Ngài đã đổi phần bánh ngon miệng của mình lấy mẩu bánh đen của một mục đồng nghèo. Mẹ Ngài trách cứ Ngài vì đã làm bạn với những người xấu. Gioan đáp lại : - Khi con chơi với chúng nó, chúng nó bớt khùng hơn.

Lúc chín tuổi, Gioan đã có một giấc mơ lạ lùng: một đám đông trẻ con tinh nghịch vây quanh Ngài, chúng nó nói phạm thượng. Bất chợt chúng hiện hình thành bọn lang sói. Nhưng đức Trinh Nữ đã nói với Gioan : - Đừng dùng bạo lực, nhưng hãy ngọt ngào nếu con muốn chiếm được tình nghĩa với chúng.

Ngài còn nói : - Đó là môi trường làm việc cùng con. Sau này con sẽ làm cho con cái mẹ, điều Mẹ sắp làm cho những con thú này.

Và rồi những con vật dữ tợn trên biến thành chiên ngoan Gioan đã kẻ lại giấc mơ trên. Một người anh đã nói với Ngài : - Mầy sẽ là thằng chăn chiên. Và người anh khác nói tiếp : - Hay là tướng cướp.

Vì tình yêu Chúa, cậu bé tưởng tượng ra mình là một thằng múa rối. Ngày Chúa nhật bọn trẻ xếp vòng tán thưởng nhà nhào lộn và leo giây đại tài, cha mẹ chúng, cũng tới nữa, những lúc đổi trò, mọi người phải lần chuỗi. Nhà nhào lộn trở thành nhà giảng thuyết, lập lại bài giảng của cha sở.

Một linh mục già cho Gioan cuốn sách văn phạm latinh và dạy Gioan học. Một trong các anh ghen tỵ. Gioan ôm sách đi tìm việc làm trong một nông rại. Hai năm sau trở về nhà, Gioan phải chân không cuốc bộ hai mươi cây số ngàn để tới trường học mỗi ngày. Sau này ở trường Chieri, Ngài làm gia nhân khi có giờ rảnh để khỏi tốn tiền mẹ. Ngài thành lập một hội vui để lôi kéo bạn bè vào đường thiện hảo, lành mạnh.

Gioan được thụ phong linh mục. Theo phong tục Italia, người ta gọi Ngài là Don Boscô. Mẹ Ngài đã nhắn nhủ : - Đùng lo nghĩ tới mẹ nữa mà chỉ cầu nguyện cho mẹ thôi. Lo lắng duy nhất của con là phần rỗi các linh hồn.

Ngài theo học ở Turinô, viếng thăm các tù nhân và đã kinh ngạc khi thấy bao nhiêu là thanh thiếu niên ở đó, thấy trong các đường phố những đứa trẻ này bị bỏ mặc cho sự cùng khổ và tật xấu của chúng. Phương pháp cứu vớt tuổi trẻ này. Trong thánh đường, một ông quản xua đuổi đứa trẻ lêu lổng. Gioan nhắc nhở ông ta rằng: nó lại không muốn nhận biết Thiên Chúa tốt lành sao ?

Chính Don Boscô sẽ dạy nó đọc chữ và giải thích giáo lý cho nó. Hôm sau đứa trẻ trở lại với bạn bè của mình. Hội bảo trợ đầu tiên được thành lập. Trong hai tháng số trẻ lên tới cả trăm. Nhưng tụ họp chúng ở đâu ? Khắp nơi người ta đều xua đuổi chúng, và người ta lại không cho rằng Don Boscô điên rồi sao ? Ngài thuê một căn nhà trong khu phố nghèo đói nhất và phải trả tiển nửa tháng một lần, Mẹ Ngài lo lắng : - Con không có lấy một xu.

Thánh nhân trả lời : - Nếu mẹ có tiền lại chẳng cho con sao ? Mẹ có tin là Chúa quan phòng giầu có vô cùng lại không tốt bằng mẹ sao ?

Ngài tập họp những trẻ xấu nết lại và dọn cho chúng ruớc lễ vỡ lòng, khu vực đốn mạt sắp trở thành nơi có tinh thần Kitô giáo nhất thành phố. Ngài không hề mất tin tưởng. Không có gì làm Ngài nản chí được. Ngài dẫn về cho mẹ mình những đứa vô lại chiêu tập trong một hàng quán. Đêm về những đứa vô lại này biến mất, mang theo cả chăn nệm, Ngài đưa về một thàng nhãi bị trui đến tận xương tủy. Chẳng mấy chốc căn phòng đã có tới bảy đứa như vậy.

Don Boscô mua một căn nhà. Trẻ nội trú đông nhung nhúc. Một ngày sống bắt đầu với thánh lễ, sau đó là đi học hay tập nghề. Chính lúc này mà thánh nhân muốn giúp đỡ từ những người nghèo tới các công tử. Các nhà sắp được xây dựng khắp nơi, cả đến Mỹ Châu.

Đối với các trẻ em nam, Gioan đã thiết lập một dòng gồm các linh mục mang danh là Salésien, để kính thánh Phanxicô Salê mà Ngài đã lấy châm ngôn của thánh nhân làm của mình.

- Lạy Chúa xin cho các linh hồn vì phần còn lại có đang giá gì cho con đâu ?

Và thánh nhân khuyên nhủ hãy làm điều đó : - Trong vui tươi hoan hỉ không ngừng.

Cùng với chị thánh Maria Mazzarello, Ngài cũng thiết lập một dòng tu mang danh hiệu các nữ tu Đức Mẹ phù hộ. Công cuộc các chị cũng sẽ lan rộng trên khắp thế giới. Mệnh lệnh của Ngài là: - Hãy tin tưởng cầu nguyện và can đảm tiến tới không ngừng.

Don Boscô đi thực hiện các công trình tại Pháp. Các sự lạ xảy ra vô số trên đường Ngài đi qua. Ơ Marseille Ngài gặp một đứa trẻ bệnh hoạn, Ngài bảo nó đọc một kinh kính Mừng và chữa lành cho nó. Cả đứa trẻ lẫn mẹ nó khóc nức nở vì biết ơn. Dọc đường xe Ngài bị vây chặt đến độ người đánh xe đã phải kêu lên : - Kéo theo một con quỉ, còn hơn chở một vị thánh.

Ở Paris Ngài được tiếp đón tưng bừng. Đức Hồng y xin Ngài chúc lành. Thi sĩ Victor Hugô hai lần muốn gặp Ngài. Người ta ngạc nhiên khi thấy Ngài rất đơn sơ vui vẻ và hiền hậu. Ngài giảng dạy nhiều. Các viện mồ côi, trường huấn nghệ, hội bảo trợ mọc lên khắp nước Pháp. Người ta nói Ngài dừng lại một chút, Người trả lời rằng: lên thiên đàng ta sẽ ngừng, hoặc, ma quỉ không có ngừng. Don Boscô muốn đưa cả thế giới về với Chúa Kitô. Các giấc mơ cho Ngài biết rằng: ước muốn của Ngài sẽ được thực hiện. Trong một giấc mơ Ngài thấy những người hoang dại quỳ gối trước mặt các tu sĩ Salésiens. Suốt đời Ngài không dứt các giấc mơ, các lời tiê đoán và các thị kiến.

Gioan phải trả cho định mệnh siêu nhiên của Ngài bằng những dằn vặt mà chỉ mình Ngài biết được. Một vị Hồng y đã phải lo lắng thấy mặt Ngài xanh mét kiệt sức. Thánh nhân cho Ngài biết là ma quỉ quấy phá mình cả đêm. Nhưng những người thân cận không hề biết gì những đau khổ của Ngài. Ngài nói : - Vì hồn tôi đã uống những chén đắng, tôi có quyền thêm vào những lo âu của con cái tôi bằng một gợn sóng đau khổ không ?

Bọn ác nhân giận dữ vì việc lành Ngài đã làm, đã tìm cách sát hại Ngài. Nhưng sức mạnh của sự dữ không nghĩa lý gì. Vượt qua mọi trở ngại tưởng như không thể lướt thắng nổi, Don Boscô còn hoạt động nhiều hơn nữa. Y sĩ tuyên bố rằng: phép lạ lớn lao nhất là Don Boscô còn sống được.

Cuối cùng Gioan cảm thấy rằng: thân xác Ngài không còn chiến đấu nổi nữa. Ngài sắp qua đời. Ngài nói với các linh mục của mình khi họ tới thăm : - Hãy nói với các con cái của tôi rằng: tôi đợi chúng tất cả trên thiên đàng.

Ngài còn nói như lời dặn dò thân thiết nhất : - Hãy cổ võ việc siêng năng rước lễ và lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ:

Người ta còn nghe thấy Ngài nói trong cơn mê sảng : - Mẹ, mẹ ơi, ngày mai... Mẹ hãy mở cửa thiên đàng cho con.

Thánh Don Boscô qua đời, đoàn con cái xếp hàng hôn bàn tay đã tận tình cứu giúp họ. Ngày 30 tháng giêng năm 1888.

+ Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã cho xuất hiện trong Hội thánh một người cha và một bậc thầy của giới thanh thiếu niên là thánh Gioan Boscô linh mục. Xin Chúa cũng đốt lửa yêu mến trong lòng chúng con, để chúng con biết phụng sự một mình Chúa, và lo cho anh em được cứu độ. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen