Get Adobe Flash player

Thánh Maximilian Kolbe Linh Mục, Tử Đạo, Lễ Nhớ

Maximilian Kolbe sinh ngày 7 tháng 1 năm 1894 tại Zdunska Wola, Ba Lan với tên cha mẹ đặt là Raymond Kolbe. Ngài gia nhập tiểu chủng viện của các cha Phanxicô ở Lwow, Ba Lan, gần nơi sinh trưởng, và lúc ấy mới 16 tuổi. Mặc dù sau này ngài đậu bằng tiến sĩ về triết học và thần học, nhưng ngài rất yêu thích khoa học, có lần ngài phác họa cả một phi thuyền không gian.

Sau khi thụ phong linh mục lúc 24 tuổi, ngài nhận thấy sự thờ ơ tôn giáo là căn bệnh nguy hiểm vào thời ấy. Nhiệm vụ của ngài là phải chiến đấu chống với căn bệnh này. Ngài sáng lập tổ chức Ðạo Binh của Ðức Vô Nhiễm mà mục đích là chống lại sự dữ qua đời sống tốt lành, siêng năng cầu nguyện, làm việc và chịu đau khổ. Ngài phát hành tờ Hiệp Sĩ của Ðức Vô Nhiễm, được đặt dưới sự phù hộ của Ðức Maria để rao giảng Phúc Âm cho mọi dân tộc. Ðể thực hiện công việc ấn loát, ngài thành lập "Thành Phố của Ðức Vô Nhiễm" -- Niepolalanow -- mà trong đó có đến 700 tu sĩ Phanxicô làm việc. Sau này, ngài thành lập một thành phố khác ở Nagasaki, Nhật Bản. Cả tổ chức Ðạo Binh và tờ nguyệt san có đến 1 triệu hội viên cũng như độc giả. Tình yêu Thiên Chúa của ngài được thể hiện hằng ngày qua sự sùng kính Ðức Maria.

Năm 1939, Ðức Quốc Xã xâm lăng Ba Lan. Thành phố Niepolalanow bị dội bom. Cha Kolbe và các tu sĩ Phanxicô bị bắt, nhưng sau đó chưa đầy ba tháng, tất cả được trả tự do, vào đúng ngày lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Vào năm 1941, ngài bị bắt một lần nữa. Mục đích của Ðức Quốc Xã là thanh lọc những phần tử tuyển chọn, là các vị lãnh đạo. Cuộc đời Cha Kolbe kết thúc trong trại tập trung Auschwitz.

Vào ngày 31 tháng Bảy 1941, có một tù nhân trốn thoát. Sĩ quan chỉ huy trại bắt 10 người khác phải chết thay. Hắn khoái trá bước dọc theo dãy tù nhân đang run sợ chờ đợi sự chỉ định của hắn như tiếng gọi của tử thần. "Tên này." "Tên kia." Có những tiếng thở phào thoát nạn. Cũng có tiếng nức nở tuyệt vọng.

Trong khi 10 người xấu số lê bước về hầm bỏ đói, bỗng dưng tù nhân số 16670 bước ra khỏi hàng.

"Tôi muốn thế chỗ cho ông kia. Ông ấy có gia đình, vợ con."

Cả một sự im lặng nặng nề. Tên chỉ huy sững sờ, đây là lần đầu tiên trong đời hắn phải đối diện với một sự can đảm khôn cùng.

"Mày là ai?"

"Là một linh mục." Không cần xưng danh tính cũng không cần nêu công trạng.

Và Cha Kolbe được thế chỗ cho Trung Sĩ Francis Gajowniczek.

Trong "hầm tử thần" tất cả bị lột trần truồng và bị bỏ đói để chết dần mòn trong tăm tối. Nhưng thay vì tiếng rên xiết, người ta nghe các tù nhân hát thánh ca. Vào ngày áp lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (14 tháng 8 năm 1941) chỉ còn bốn tù nhân sống sót. Tên cai tù chấm dứt cuộc đời Cha Kolbe bằng một mũi thuốc độc chích vào cánh tay. Sau đó thân xác của ngài bị thiêu đốt cũng như những tù nhân khác.

Cha được Đức Thánh Cha Paul VI tôn phong Chân Phước ngày 17 tháng 10 năm 1971 và Đức Giáo Hoàng John Paul II đã chính thức ghi tên cha vào sổ các thánh tử vì đạo của lòng nhân ái của Giáo Hội ngày 10 tháng 10 năm 1982.

+ Lời nguyện

Lạy Chúa, nhờ Chúa ban ân sủng, Thánh Linh mục tử đạo Maximilian Kolbe đã hăng say cứu các linh hồn, hết tình yêu mến tha nhân và trọn đời gắn bó với Đức Trinh nữ Vô Nhiễm. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, mà giúp chúng con đem hết sức mình phục vụ anh em, để danh Chúa được vinh quang rạng rỡ. Nhờ vậy, chúng con sẽ trở nên đồng hình đồng dạng với Con Một Chúa đến hơi thở cuối cùng.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen. 

Thánh Clara, Đồng Trinh, Lễ Nhớ

Thánh Clara sinh năm 1193 tại Assisi miền Umbria, thuộc dòng họ danh giá Offreducciô. Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy Ngài khóc. Ngài dành nước mắt để tưới chân Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Khi nghe biết một thanh niên giàu có đã trở nên người nghèo thành Assisi, người thiếu nữ danh giá cảm kích trước mẫu gương của thánh nhân-thánh Phanxicô Assisi. Trong khi gia đình nhắm cưới gả cho nàng, thì nàng chỉ nhắm đến cuộc sống sám hối khiêm hạ. Sau khi nghe bài giảng của thánh nhân, Ngài đã đi tới quyết định dâng hiến đời mình cho Chúa.

Khi ấy thánh Clara 18 tuổi. Vào ngày Lễ Lá, 18 tháng 3 năm 1212, thánh nữ ăn mặc sang trọng tới nhà thờ chính tòa dự lễ. Theo thói quen, các bà tiến lên nhận lá từ tay Đức Giám mục. Hôm ấy Clara quá xúc động, khiến chính Đức Giám mục phải rời ghế đưa lá đến cho Ngài. Chiều về, Ngài đã cùng với một người bạn lén bỏ nhà theo lối cửa hậu rồi theo ánh đuốc tới gặp thánh Phanxicô tại Porsiuncula... Giai thoại thật cảm động, một cô gái 18 sang trọng đã bỏ tất cả những gì là quen thuộc và an toàn để đi theo Đấng vô hình, còn Phaxicô 30 tuổi không có lấy một xu dính túi đã nhận lấy trách nhiệm về cả tinh thần lẫn vật chất đối với cô. Giữa đêm xuân trong rừng cây và dưới ánh đuốc của đoàn anh em, Clara buông xõa mái tóc huyền trên bàn thờ cho Phanxicô cắt bỏ. Hành động hoàn toàn ngoại lệ và không một chút quyền hạn theo giáo luật. Phanxicô đã lãnh bản ly biệt của Clara đối với thế gian, rồi gởi cô vào một nữ tu viện Bênêđictô gần đó.

Biến cố nổ lớn làm cả thành phố xúc động. Thế gian kết án Clara. Ông Monaldo, cậu của thánh nữ đến nhà dòng bắt thánh nữ về, nhưng Ngài ôm cứng chân bàn thờ quyết chọn Chúa mà thôi. Phanxicô dẫn thánh nữ tới một nữ tu, tu viện Bênêđictô khác, cùng với em của mình là Anê. Sau cùng Phanxicô thiết lập cộng đoàn cho Clara. Một tu viện tại San Đamianô, nơi đây bà Ortolanta, mẹ của thánh nữ cũng nhập dòng. Trong một thời gian cộng đoàn độc lập như những người hành khất đầu tiên. Phanxicô viết cho cộng đoàn một bản luật sống vắn gọn, đòi kỷ luật gắt gao và chay tịnh khắc khổ. Dầu vậy, Clara con người đi xa hơn cả ước muốn của thánh Phanxicô. Năm 1215 Phanxicô đặt Clara làm tu viện trưởng và có lẽ đã trao cho Ngài một bản luật dòng thánh Bênêđictô.

Vào những năm cuối đời thánh Phanxicô, mọi liên hệ với San Đamianô bị gián đoạn. Câu chuyện hay về bữa ăn tối với Clara không được chính xác lắm. Nhưng cơn đau cuối cùng Phanxicô đã được Clara cho trú ngụ trong một mái chòi bằng lá cây ở cổng tu viện Đamianô, nơi Phanxicô trước tác bài ca mặt trời. Ngài ban phép lành cuối cho Clara rồi về Porsiuncula và qua đời tại đó. Ngài cũng xin anh em đưa xác về Assisi qua ngã San Đamianô. Thánh Clara và chị em tiếp rước và có dịp chiêm ngưỡng các vết thương ở tay và chân Ngài.

Clara thực hiện đúng lý tưởng của người nghèo thành Assisi. Đức Innôcentê III đã đích thân ban phép cho Ngài được giữ đức nghèo khó tuyệt đối. Nhưng Đức Grêgôriô IX nguyên là hồng y Ugôlinô đã muốn cải sửa luật cho phép nhà dòng có đất đai nhà cửa. Clara cưỡng lại và năm 1228 đã được hưởng đặc ân như sở nguyện. Ngài đã thưa với Đức Grêgôriô:
- Thưa Đức Cha, xin tha tội cho chúng con, nhưng đừng tha cho con khỏi theo Lời Chúa.

Năm 1247, một lần nữa Đức Innocentê IV kiểm soát lại luật thánh Phanxicô, muốn sống đời khó nghèo tuyệt đối. Luật này được Đức Innocentê chấp thuận vội vã, hai ngày trước khi thánh nữ qua đời. Năm 1893 người ta tìm thấy sắc chỉ nguyên thủy trong mộ thánh nữ.

Trong cơn bệnh của Ngài, Đức hồng y Rainalđô, tức là Đức Giáo hoàng Alexandrô sau này, đã đến trao mình Thánh Chúa và khuyyên nhủ thánh nữ, thánh nữ trả lời:

- Từ khi nếm thử chén đắng và cuộc tử nạn của Chúa, con thấy không còn gì làm con đau đớn nữa.

Sau khi chúc lành cho các nữ tu đến thăm, Ngài nói với chính mình:

- Hãy an tâm, ngươi đã theo đúng đường, cứ tin tưởng vì Chúa tạo thành đã thánh hiến và không ngừng gìn giữ ngươi, đã yêu ngươi với tình mẹ thương con, ôi lạy Chúa xin chúc tụng Chúa vì đã dựng nên con.

Thánh nữ qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253 và năm 1255 được tôn phong hiển thánh.

+ Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, Chúa đã dìu dắt thánh Clara và soi sáng cho thánh nữ biết yêu chuộng đời sống khó nghèo. Xin nhận lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp mà ban cho chúng con được cùng người sống tinh thần nghèo khó mà theo chân Đức Kitô để được vào quê trời chiêm ngưỡng nhan thánh Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Thánh Đaminh, Linh Mục, Lễ Nhớ

Thánh Đaminh sinh tại Castille, Tây Ban Nha, năm 1170.

Truyện về tuổi trẻ của Ngài nói tới nhiều điềm báo lạ lùng. Mẹ Ngài, bà Aza mơ thấy con mình như một con chó ngậm đuốc chạy khắp cả thế gian. E ngại vì giấc mơ này bà làm tuần cửu nhật xin cho được sinh nở vuông tròn. Đến ngày thứ bảy, vị chánh sở nói với bà : - Đừng sợ gì vì đứa trẻ sinh ra sẽ trở thành ánh sáng thế gian và niềm an ủi cho Giáo hội, nhờ sự thánh thiện và giáo thuyết của nó.

Khi trẻ Đaminh còn nằm trong nôi, một bầy ong mật lượn quanh rồi êm ái đậu xuống nơi nôi Ngài. Điều này báo trước rằng lời lẽ miệng Ngài sẽ êm dịu như mật ngọt. Ngày chịu phép rửa tội, vú nuôi Ngài thấy một vì sao chói sáng trên trán Ngài. Đó là dấu ơn thánh Ngài sẽ tỏa chiếu để thu hút các linh hồn.

Được cưng chiều, thánh Đaminh sớm sống đời khổ hạnh. Ngài học hãm mình cầu nguyện khi vừa thôi nôi. Người vú nuôi nhiều lần thấy Ngài âm thầm thức dậy trong đêm tối để cầu nguyện. Ngài chọn một nơi thanh vắng ở cuối vườn làm nơi tâm sự với Chúa. Đức Trinh nữ thường hiện ra với Ngài, dạy Ngài lần chuỗi. Việc đạo đức này về sau trở thành phương thế hữu hiệu để cải hóa những người theo lạc giáo.

Đến tuổi đi học, Đaminh được gởi tới thụ giáo với ông cậu là linh mục ở Gumiel. Năm 14 tuổi, Ngài theo học tại đại học ở Palencia và đã tiến triển rất nhanh về hiểu biết lẫn nhân đức. Nạn đói lan tràn nước Tây Ban Nha, một người bạn đến thăm Đaminh không thấy đồ dùng lẫn những pho sách quí đâu nữa. Ngài đã bán để giúp người nghèo khó rồi. Gương sáng này đã lôi kéo được nhiều sinh viên lẫn các giáo sư bắt chước.

Sau khi hoàn tất việc học, Đaminh được đức cha Diegô, giám mục Osma truyền chức linh mục. Vị Giám Mục đạo đức này đang muốn canh tân lòng đạo đức trong giáo phận, đã đặt cha Đaminh làm kinh sĩ. Khi lo chuyện nhà nước qua Châu Âu, đức cha Diegô dẫn cha Đaminh đi theo. Tại Languedoc, các Ngài được chứng kiến sự tàn phá mà bè rối Albigeois gây ra. Họ chủ trương rằng: mọi vật chất đều xấu và do ma quỉ. Sự hoàn thiện theo họ, hệ tại sự từ bỏ phi nhân bản để sống khắc khổ. Chủ trương này dẫn tới sự lãnh cảm. Chẳng hạn đối với việc hôn nhân và chôn vùi mọi cơ cấu xã hội gia đình. Họ còn có lễ nghi, và phẩm trật riêng. Người ta bị phân thành hai loại: một bên gồm những người hoàn thiện và những nhà lãnh đạo sống rất khắc khổ; bên kia là quần chúng tìm thấy nơi giáo thuyết mới lý do bào chữa cho sự tự do luân lý không bị kiềm chế của mình.

Trên đường về, đức cha Diegô và cha Đaminh đến Rôma xin từ nhiệm để dấn thân vào cuộc truyền giáo quanh vùng Diepen. Đức giáo hoàng Innocentê III từ lâu đã mong có người ra đi rao giảng tại miền nam nước Pháp, chống lại ảnh hưởng của bè rối Albigeois, thay vì chấp nhận lời thỉnh cầu, Đức Giáo Hoàng sai các Ngài tới miền nam nước Pháp. Hai người đã tới phụ giúp với các sứ giả đã được sai tới trước kia. Tại Montpellier, đức cha Diegô đã nhận thấy sự khác biệt giữa các nhà giảng thuyết công giáo đầy xa hoa với các nhà giảng thuyết phái Albigeois đầy khiêm tốn giản dị. Các Ngài chọn đường lối khác, lấy khó nghèo và cầu nguyện làm gương sáng thu hút mọi người.

Tháng 4 năm 1207, nhiều tu sĩ Xitô đến trợ lực. Trong vòng một năm trời, có đến 40 vị dấn thân vào hoạt động. Những thành công sơ khởi bắt đầu tới, nhưng không kéo dài được lâu. Các tu sĩ Xitô nản lòng. Đức cha Diegô trở về Tây Ban Nha kiếm thêm người trợ lực và qua đời tại đây. Một vị sứ thần cũng từ trần. Tệ hại hơn cả là Phêrô Castelman, vị sứ thần khác, bị bọn lạc giáo ám sát.

Còn lại mình cha Đaminh. Ngài vẫn tiếp tục nhiệt tình hoạt động trong đường lối khổ hạnh và cầu nguyện. Không chấp nhận kiểu rao giảng khua trống gióng chiêng, Ngài nói : - Không thể đến với kẻ thù như vậy được. Hãy trang bị bằng kinh nguyện và chân không mà đến với tên khổng lồ Gôliat.

Trong sáu năm, cha Đaminh trải qua nhiều sóng gió, ngay khi mới tới, đức cha Diegô và Ngài đã thiết lập một cộng đoàn nữ tu tại Prouille. Bây giờ Ngài chỉ còn là trợ lực duy nhất, một ngày kia trong khi nhiệt tình cầu nguyện, thánh nhân than thở tại sao số người lạc giáo quá nhiều mà trở lại thì quá ít. Đức Trinh Nữ đã hiện ra và dạy Ngài hãy rao giảng phép lần hạt Mân Côi. Vâng lời Mẹ, thánh nhân dồn nỗ lực vào việc truyền bá sự sùng kính kỳ diệu này, thay vì tranh luận như trước, Ngài dạy dân chúng hiểu phương pháp và tinh thần khi lần chuỗi. Ngài dẫn giải cho họ các mầu nhiệm thánh. Kết quả thật lạ lùng. Sau một thời gian ngắn, thánh Đaminh đã được an ủi khi thấy hơn một trăm ngàn người tội lỗi và những kẻ lạc giáo được đưa trở về với Giáo hội.

Hoàn thành sứ mệnh, thánh Đaminh có ý định thành lập một dòng tu làm vườn ươm các tông đồ. Ngài trình bày dự tính với đức giáo hoàng Innocentê III, nhưng đức giáo hoàng ngần ngại. Đêm sau Ngài mơ thấy đại giáo đường Lateranô bị rung chuyển và thánh Đaminh đưa vai chống đỡ bức tường cho khỏi sụp đổ. Biết ý Chúa Ngài cho gọi thánh nhân đến và chấp thuận cho lập dòng mới. Đây là dòng giảng thuyết.

Khi còn ở Rôma, một đêm kia, trong lúc cầu nguyện, thánh Đaminh thấy Chúa Giêsu giận dữ muốn phóng ba ngọn đuốc xuống thiêu hủy thế gian : - Loài người lao mình vào nết xấu kiêu căng nhục dục và biển lận, nên Ta muốn hủy diệt chúng bằng 3 ngọn lửa này.

Nhưng Đức Trinh Nữ cản lại : - Con ơi, hãy thương xót thế gian. Này đây có hai người sẽ làm sống dậy các nhân đức.

Đaminh biết mình là một, nhưng người kia là ai thì chưa rõ. Hôm sau khi đến nhà thờ Ngài gặp một tu sĩ, mặc đồ người ăn xin ngồi ngay cửa. Đó là thánh Phanxicô. Hai người chưa gặp nhau, nhưng đã ôm choàng lấy nhau và gọi tên nhau. Các Ngài hợp nhất với nhau trong công cuộc của Chúa.

Thánh Đaminh đề cao việc học, Ngài gởi các tu sĩ đến các đại học, Ngài truyền : - Chớ gì các tu sĩ chuyên cần học tập ngày đêm. Lúc ở nhà cũng như khi đi ngoài đường, họ phải không ngừng đọc sách và suy gẫm.

Thánh Đaminh rảo qua khắp nẻo trên đường giảng dạy, một thanh niên ngây ngất hỏi Ngài đã học cách nào, Ngài nói : - Hỡi con trong sách đức ái đó, sách này hơn mọi sách dạy bảo tất cả.

Một năm trước khi qua đời, các tu sĩ Đaminh đã được sai tới Oxford, Hungaria, Đan Mạch và Hy lạp. Thánh Đaminh qua đời tại Bologna ngày 6 tháng 8 năm 1221.

+ Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã cho xuất hiện trong Hội thánh một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý là thánh Đaminh. Xin nhận lời thánh nhân hằng tha thiết chuyển cầu, mà ban cho Hội thánh luôn tiến triển, nhờ công đức và lời giảng dạy của Ngài.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen. 

Lễ Chúa Giêsu Hiển Dung, Lễ Kính

Cả ba Phúc Âm Nhất Lãm đều đề cập đến biến cố Hiển Dung (Mátthêu 17,1-8; Máccô 9,2-9; Luca 9,28-36). Với một sự tương đồng đáng chú ý, cả ba đều kể lại biến cố này sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế và sau lần đầu tiên Chúa Giêsu nói về sự thống khổ và cái chết của Người. Sự hăng hái của Phêrô trong việc dựng lều nơi hiển dung đưa ra giả sử rằng, biến cố đó xảy ra trong dịp Lễ Lều kéo dài một tuần lễ trong mùa thu.

Tabor là ngọn núi cao nhất miền Galilêa. Từ trên đỉnh ta có thể nhìn thấy một khung cảnh bao quát. Chính tại đây, Chúa Giêsu đã biến hình trước mặt ba môn đệ là những người sẽ được chứng kiến cơn hấp hối của Ngài sau này trong vườn cây Dầu.

Mặc dù cả ba văn bản đều rất giống nhau, theo các học giả Thánh Kinh, thật khó để diễn lại cảm nghiệm của các tông đồ, vì các Phúc Âm dựa rất nhiều vào Cựu Ước trong đoạn diễn tả cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa ở núi Sinai và những điều tiên tri về Con Người. Chắc chắn là Phêrô, Giacôbê và Gioan đã thoáng được nhìn thấy thiên tính của Chúa Giêsu, nhưng ấn tượng ấy đủ mạnh để tạo nên sự sợ hãi in sâu trong tâm hồn họ.

Phúc Âm đã kể lại: "Quần áo Ngài trở nên rực sáng và trắng đẹp đến nỗi không một thợ giặt nào ở thế gian làm được như vậy. Rồi Êlia và Môsê hiện ra nói chuyện với Ngài. Bấy giờ Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu: "Lạy Thầy, ở đây tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều: Thầy một, Êlia một và Môsê một". Phêrô không rõ mình nói gì vì cả ba đều kinh sợ. Kế đến có một đám mây che phủ các Ðấng ấy và nghe thấy tiếng từ đám mây phán ra: "Này là con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Người".

Một cảm nghiệm như vậy không thể nào diễn tả được, do đó các ngài dùng cách diễn đạt thông thường trong kinh sách để diễn tả. Và tất nhiên, Chúa Giêsu đã cảnh cáo cho họ biết, sự vinh hiển và sự thống khổ của Người liên hệ với nhau một cách chặt chẽ - đó là chủ đề mà Gioan lập đi lập lại trong Phúc Âm của ngài.

Sự kiện hiển dung của Chúa Giêsu, một lần nữa lại minh xác với chúng ta rằng: Chúa Giêsu  chính là Con Thiên Chúa, là Ngôi Lời Nhập Thể, đồng thời cho chúng ta thấy trước được hình ảnh sự sống lại vinh hiển của Ðấng Cứu Thế, và sự sống lại của những người công chính trong ngày sau hết.

Truyền thống coi núi Tabor là nơi hiển dung. Ðầu tiên, trong thế kỷ thứ tư một nhà thờ được dựng nên ở nơi đây để cung hiến cho biến cố này vào ngày 6 tháng Tám. Một ngày lễ để tôn kính sự Hiển Dung được Giáo Hội Ðông Phương cử hành mừng bắt đầu từ khoảng thời gian đó. Sự mừng kính của một vài Giáo Hội Tây Phương bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ tám.

Vào ngày 22 tháng Bảy năm 1456, Thập Tự quân đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ ở Belgrade. Tin tức về cuộc chiến thắng được đưa về Rôma vào ngày 6 tháng Tám, và vào năm sau, Ðức Thánh Cha Callistus III đã đưa ngày lễ này vào niên lịch phụng vụ của Rôma.

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, khi Con Một Chúa biểu lộ dung nhan vinh hiển Người, Chúa đã dùng hai chứng nhân Cựu Ước là ông Môsê và ông Êlia để củng cố niềm tin của các Tông Đồ vào mầu nhiệm cứu độ và báo trước hồng ân lạ lùng Chúa sẽ ban là nhận chúng con làm nghĩa tử. Xin cho chúng con nghe lời Con Một Chúa để mai sau được chung hưởng gia nghiệp với Người.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Thánh Gioan Maria Vianney, Linh Mục, Lễ Nhớ

Gioan Maria Vianney sinh ngày 8 tháng 5 năm năm 1786 tại Dardilly. Cha mẹ Ngài là những nông dân trung kiên với đức tin. Suốt thời cách mạng Pháp, họ thường bí mật tiếp rước các linh mục đến trú ngụ. Vì vậy Gioan là một trẻ em có mặt trong các buổi lễ cử hành lén lút tại lẫm lúa và được chứng kiến rất nhiều mẫu gương anh hùng với đức tin.

Năm lên 11, Gioan được cha Greboz cho xưng tội lần đầu. Tháng 5 năm 1798 Gioan được mẹ dẫn sang nhà bà dì ở Ecully để dọn mình rước lễ vỡ lòng. Mùa xuân năm 1799 Gioan cùng với 15 em khác được rước lễ vỡ lòng trong một thánh lễ được cử hành giữa đống rơm. Ngài rước lễ rất sốt sắng và đã giữ cho đến chết tràng Chuỗi Mân Côi kỷ niệm ngày hạnh phúc này.

Năm 1800 thanh bình trở lại với các tín hữu, khi Napoléon nhận biết rằng không có tôn giáo thì không có một tổ chức nào có thể tồn tại vững bền được. Từ nhỏ Gioan đã muốn làm linh mục. Khi bày tỏ ý định tốt đẹp này, Ngài đã 17 tuổi và mới chỉ qua bậc tiểu học. Mẹ Ngài tán thành chí nguyện, nhưng cha Ngài với óc thực tế đã băn khoăn rất nhiều và không chấp nhận. Mãi tới năm 1805, Gioan đến sống với cha Belley, họ Ecully. Theo học với các bạn tuổi còn nhỏ, mà trí khôn Ngài lại quá trì trệ. Đã vậy vào năm 1890, Ngài lại còn phải nhập ngũ. Năm sau Ngài may mắn được trở về nhà.

Năm 1810, Gioan gia nhập tiểu chủng viện Verrières. Hai năm trôi qua, Ngài là một chủng sinh học hành rất kém. Dầu vậy Ngài cũng được nhận vào đại chủng viện. Tại đây chuyên ngữ là tiếng Latinh, mà Gioan lại quá dở về môn này, khiến ban giám đốc khuyên thầy hồi tục. Không thất vọng một lần nữa cha Balley đảm nhận việc dạy dỗ người chủng sinh gương mẫu nhưng chậm trí này. Sau khi hoàn tất chương trình học, ngày 13 tháng 8 năm 1815, Gioan Maria Vianney thụ phong linh mục tại nguyện đường đại chủng viện Grênoble. Ngài được gọi lên chức linh mục chính vì đời sống đạo đức.

Sau khi thụ phong, cha Gioan Maria Vianney được cử làm phó xứ Ecully. Tháng 12 năm 1817, cha Balley qua đời, cha Vianney được cử về làm chánh sở họ Ars. Khi bổ nhiệm, cha tổng đại diện nhắn nhủ : - "Đây là một họ đạo nhỏ bé nghèo nàn, thiếu vắng tình yêu Chúa. Cha hãy mang tình yêu đến cho họ".

Ngày 9 tháng 2 năm 1818 cha đến xứ lần đầu với hành lý khiêm tốn chất trên một chiếc xe, gồm một chiếc giường cũ, một rương sách và ít đồ vặt vãnh khác. Tới gần làng, Ngài dừng chân hỏi đường. Bọn trẻ chăn chiên không hiểu tiếng nói khác với thổ ngữ chúng vẫn dùng nhưng cũng đoán biết và chỉ lối cho cha. Khi biết được địa sở, cha Gioan quì gối cầu nguyện cho những người sẽ là đoàn chiên của mình. Tới nơi Ngài vào thẳng nhà thờ và chìm trong kinh nguyện.

Nhà xứ Ars thật nghèo nàn với vài đồ vật thật sơ sài. Chính cha sở trẻ họ đạo lại coi đời sống cầu nguyện hãm mình là phương thế để thành công. Trong khi mọi người còn triền miên giấc điệp, Ngài đã xách đèn từ nhà xứ sang nhà thờ để cầu nguyện. Trước nhà tạm, nhiều lần với nước mắt ướt cả sàn nhà, Ngài tha thiết cầu nguyện : - Lạy Chúa, con xin lãnh chịu tất cả, nhưng xin Chúa cải hóa họ đạo của con... Con bằng lòng chịu mọi đau khổ như Chúa muốn, miễn sao họ biết hồi tâm hối cải.

Chìm đắm trong kinh nguyện, cha Gioan không quan tâm tới nhu cầu thể xác, mà Ngài coi như cái thây ma. Ngủ đã ít, Ngài lại thường nằm trên sàn nhà. Đồ đạc người ta dâng cúng, Ngài đem cho người nghèo... Vui cười Ngài nói: - Tôi không hề mất áo choàng bao giờ. Chuyện ăn uống Ngài cũng chẳng quan tâm đến, tự mình nấu ăn, Ngài chỉ nấu một nồi khoai rồi treo lên tường.

Khi đói Ngài ăn một hai củ và củ thứ ba là "để cho vui miệng". Nồi khoai thường để lâu cho đến nỗi những củ cuối cùng thường bị mốc meo. Ngài hãm mình như vậy cho tới năm 1827, khi các chị dòng Chúa quan phòng nấu ăn cho Ngài.

Hơn nữa thánh nhân còn tự ý hãm mình. Mỗi đêm Ngài đều đánh tội trước khi ngủ. Trên tường phòng Ngài còn loang lổ nhiều vết máu.

Với một đời sống cầu nguyện hy sinh như vậy, thánh nhân nỗ lực canh tân họ đạo. Về xứ được ít lâu, Ngài sớm nhận ra được ba tệ đoan trong họ đạo là sự lãnh đạm với việc đạo đức, thói quen làm việc xác ngày Chúa nhật và tật ham khiêu vũ.

Để chấn hưng lại tình trạng suy dồi kia, dĩ nhiên thánh nhân gia tăng lời cầu nguyện và việc hãm mình. Trong hoạt động Ngài đi thăm viếng các gia đình. Sửa lại tình trạng thiếu hiểu biết về đạo, Ngài lo dạy giáo lý cho trẻ em. Suốt 27 năm, cha thánh Gioan ngày nào cũng trung thành với viêc dạy giáo lý. Đối với người lớn cha dọn bài giảng rất kỹ lưỡng. Ngồi trong phòng thánh cạnh nhà tạm, cha viết bài giảng, Đêm thứ bảy cha học và tập giảng - cho hôm sau lời giảng của cha rất đơn sơ, nhưng xoáy vào lòng người nghe.

Chẳng hạn Ngài nói: - Không có gì vững bền cả. Đời sống sẽ qua đi... danh giá cũng sụp đổ, của cải rồi sẽ tiêu tan, sức khỏe cũng bị tấn công, chúng ta ra đi như làn gió.

- Càng cầu nguyện người ta càng ham thích, như một con cá trồi lên mặt nước rồi chìm mình trở lại và luôn bơi đi mãi. Linh hồn đắm chìm trong lời cầu nguyện sẽ mất hút trong sự êm dịu của cuộc đàm thoại với Chúa.

Các câu chuyện nhỏ cha kể nhiều khi có giá trị như một bài giảng. Chẳng hạn cha nói về một em nhỏ bị đau bịnh : - Con đau đớn lắm không ?

Cậu bé trả lời "Hôm qua con không đau đớn gì và ngày mai con cũng hết khổ".

Cha hỏi lại : - Vậy con muốn được lành bệnh không ?

- Trước khi bệnh con hung dữ, khỏi bệnh con dám như vậy lắm. Để như thế nầy là tốt hơn cả.

Chống lại tật làm việc xác, cha nói: - Ngày chủ nhật là của Chúa. Mà anh em ăn trộm cũng chẳng lợi ích gì cho anh em. Tôi biết có hai phương thế chắc chắn để nên nghèo khó là làm việc ngày Chúa nhật và lấy của kẻ khác.

Để chống lại tật ham khiêu vũ, đã có lần cha đến giữa đám để giải tán. Lần khác cha bỏ tiền trả cho nhạc công để anh rút lui. Tích cực hơn, cha lập hội Mân Côi để tập họp các thiếu nữ vào việc thực hành đạo đức này.

Hơn nữa, trong họ có bảy quán rượu cha hết sức khuyên nhủ và cả chúc dữ nữa để họ đổi nghề. Cuối cùng cả 7 quán đều đóng cửa.

Thấy trọng trách của một chủ chiên quá nặng nề. Đã bốn lần cha Gioan tìm cách trốn khỏi họ đạo. Nhưng rồi cha đã bị phát giác, tiếng chuông reo vang và người ta đổ xô ra đường để giữ cha lại. Nỗ lực của cha không dễ dàng được tiếp nhận. Người ta tìm nhiều cách để vu khống cho cha nhiều tội tày trời. Thành công của cha khiến cho nhiều người nghi ngờ và ghen tị, đến nỗi tòa giám mục phải mở cuộc điều tra. Sau nữa chính quỉ dữ cũng phải công khai phá cha dưới nhiều hình thức như xê dịch đồ đạc, la lối om sòm, hiện hình kỳ quái... đến độ đốt cháy cả giường nằm.

Nhớ lại tất cả những gì đã trải qua, cha nói : - Khi đến Ars, nếu biết được tất cả những gì tôi phải chịu chắc tôi chết liền.

Nhưng ơn thánh Chúa đã nâng đỡ Ngài. Mỗi ngày trong thánh lễ, Ngài được thấy chính Chúa Giêsu. Dần dần họ Ars đã được biến đổi, hương thơm thánh thiện còn bay lan rộng ra khỏi ngôi làng bé nhỏ và hẻo lánh này. Khách thập phương từ khắp nơi đổ xô đến, để được chiêm ngưỡng một cha sở thánh thiện, để được nghe lời Ngài, để xưng tội. Cha Gioan đã làm vui lòng mọi người.

Suốt hai mươi năm trời, cha như chôn mình trong tòa giải tội, từ sau lễ tới 11 giờ trưa, rồi từ 1 giờ chiều tới 8 giờ tối. Sau này khi được qua đời, cha được chôn cất tại nhà nguyện thánh Gioan tẩy giả, cạnh tòa giải tội mà người ta gọi là phép lạ lớn nhất ở Ars.

Tận tụy với các linh hồn, cha Gioan cũng được ơn thấu tỏ lòng người. Ngày kia có một du khách tới Ars để đi săn. Nhìn ông với con chó bên cạnh, Ngài nói : "Con chó của ông thật đẹp, nhưng linh hồn chẳng đẹp tí nào". Cúi mặt người du khách vào toà xưng tội.

Một người đàn bà khác nghe cha nói : "Ông ấy đã được rỗi. Giữa thành cầu và giòng nước, ông đã kịp ăn năn tội...". Thế là cha đã biết nỗi lo âu sầu của bà, vì cái chết mới đây của chồng bà. Ngài đã mang lại cho bà niềm an ủi khi cho biết rằng : nhờ những bó hoa và vài lần cầu nguyện với vợ mỗi tháng Đức Mẹ, mà người chồng xấu số kia đã được cứu rỗi.

Đời sống của cha Gioan là một mẫu gương tận tụy vì Chúa và vì các linh hồn, Ngài thường nói : "Hạnh phúc cho một vị linh mục được hao mòn vì Chúa và các linh hồn".

Quả thực, cha Gioan đã hao mòn vì phụng sự. Ngày 2 tháng 8 năm 1859 cha chịu các phép bí tích sau hết. Ngày 4 tháng 8 năm 1859 cha trút hơi thở cuối cùng với sự mãn nguyện.
- Phải chết lành khi ng
ười ta sống trên thánh giá.

Tháng 5 năm 1925, cha Gioan được suy tôn hiển thánh và năm 1925 được đặt làm bổn mạng các cha sở trên toàn thế giới.

+ Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một người mục tử. Vì lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con hằng noi theo lòng bác ái của người mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Thánh Alphongsô Liguori, Giám Mục, Tiến Sĩ Hội Thánh, Lễ Nhớ

Tại pháp đình Naples, sáng hôm ấy, một buổi sáng đẹp trời của tháng 7 năm 1723 có xử một vụ kiện lớn giữa hai nhà quý tộc thuộc dòng họ Orsini. Một vụ kiện hứa hẹn nhiều sôi nổi và tiền bạc vì hơn 600 ngàn đồng vàng là giá cả tranh chấp. Khi toà khai mạc phiên xử, dân chúng đều chú ý đến vị luật sư trẻ tuổi nhận biện hộ cho công tước Gravina. Ông trẻ tuổi 27 nhưng tài cao. Lúc lên 16 tuổi đã đậu hai bằng tiến sĩ luật đạo và đời. Thân phụ ông trông coi đạo chiến thuyền Capitana của hoàng gia. Từ 7 năm qua, chưa bao giờ ông thua một vụ kiện nào. Nhà luật sư thời danh ấy là Anphongsô thuộc dòng họ Liguôriô.

Anphongsô đã nghiên cứu cẩn thận các tài liệu. Nhiều luật gia tên tuổi cũng cầm chắc rằng ông sẽ đem thắng lợi về cho thân chủ. Nhưng ai có ngờ rằng có một bàn tay trong đã lèo lái vụ kiện. Những món quà tặng ngầm đã chuyển thắng thành bại. Tòa tuyên bố công tước Gravina có lỗi. Hồng Y Altan đã nhận của đối phương hai con gấu trắng. Ông thích thú đến độ quên cả lương tâm và công lý. Ông làm áp lực mạnh để tòa kết án thân chủ của vị luật sư tên tuổi. Anphongsô bước ra khỏi tòa án, vừa đi vừa nói: “Hỡi thế gian, ta đã biết ngươi!”. Vĩnh biệt pháp đình về đến nhà, người bỏ ăn uống, không tiếp khách, trong ba ngày đóng chặt cửa phòng suy nghĩ. Đến ngày thứ ba, theo lời van nài của bà thân mẫu, người mới mở cửa bước ra. Nhưng nay đã là một người thay đổi hẳn.

Như thường lệ, người đi vào bệnh viện giúp bệnh nhân. Một tiếng gọi khẩn thiết đến với người: “Hãy bỏ thế gian và hiến toàn thân cho Ta”. Tiếng gọi càng trở nên khẩn khoản. Anphongsô đáp lại: “Lạy Chúa, con đã chống lại ơn Chúa quá nhiều. Này con đây xin làm theo ý Chúa muốn”. Nói xong, ngài đi vào quỳ trước bàn thờ Đức Mẹ ở cạnh đền của thân phụ. Từ đây, người sẽ là hiệp sĩ của Đức Mẹ, là linh mục của giới nghèo. Để thể hiện lời hứa ấy, người rút thanh gươm nhà quý tộc thường đeo, đặt trước bàn thờ Đức Mẹ. Hôm ấy là ngày 19 tháng 8 năm 1723, ngày mà Anphongsô thường gọi là ngày “trở lại” của mình, và sau này, mỗi khi có dịp trở về Naples, người hay đến kính viếng ảnh Đức Mẹ hay thương xót này. Người nói: “Chính Đức Mẹ đã cứu tôi khỏi thế gian và đưa tôi vào hàng giáo sĩ”.

Anphongsô sinh tại Marianella gần Naples , ngày 27-12-1696. Vào đại học hoàng gia lúc lên 12, nhận thanh kiếm hiệp sĩ lúc lên 14, đậu hai bằng tiến sĩ luật đạo và đời lúc lên 16, làm luật sư và chánh án lúc lên 20 tuổi. Với nền học vấn uyên thâm, Anphongsô còn có tài hội họa và âm nhạc. Mỗi độ Giáng Sinh về, bài “Hội Nhạc Thiên Quốc” trầm bổng du dương nhắc đến biệt tài âm nhạc của người vậy. Ngày 21-12-1726, Anphongsô được thụ phong linh mục. Thân phụ người chỉ miễn cưỡng chấp nhận sau ba giờ ôm cổ thuyết phục con bỏ ý định làm linh mục. Vị tân linh mục dấn thân ngay vào việc giảng các tuần đại phúc. Càng tiếp xúc với đám bình dân, Anphongsô càng nhận thực sự thiếu thốn về đàng thiêng liêng của họ. Trong tuần đại phúc ở Campagna gần thành Eboli, Anphongsô cảm thấy một cơn xúc động mãnh liệt trước cảnh thiếu thốn vật chất và nhất là tinh thần của những người nghèo khó tất bạt. Trong khi 12 ngàn linh mục sống trong thủ đô hoa lệ để phục vụ cho người giàu thì ở đây, chỉ cách thủ đô Naples mấy chục cây số, không có linh mục nào để “bẻ bánh Lời Chúa” nuôi dưỡng họ. Anphong sô trở về Naples với một ý định: Lập một Dòng tu chuyên lo cho người nghèo khó tất bạt. Trong hai năm, ngài suy nghĩ, bàn hỏi với những người khôn ngoan, với Cha Bề Trên Dòng Lazaristes, với vị Giám Tỉnh Dòng Tên, với một nhà thần học lỗi lạc thuộc Dòng Đa Minh. Tất cả đều đồng ý đó là Thánh ý Chúa. Chị Marie Céleste Crostarosa người vừa mới thành lập một Dòng nữ tu chiêm niệm được Chúa mạc khải nhiều điều, cũng thôi thúc người thực hành ý định ấy. Tháng 11 năm 1732, Anphongsô ngồi trên lưng một con lừa, từ biệt thủ đô Naples để lên đường đi lập Dòng. Cùng với bốn anh em linh mục, người đến làng Scala, bắt đầu một cuộc sống chung, cùng dâng Thánh lễ, đọc kinh nhật tụng, tự tay làm bếp, lập thành một cộng đoàn tông đồ với mục đích “Tiếp tục công việc Chúa Kitô là rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khổ”.

Ngày 9 thánh 11 năm 1732, trong chính ngày lễ Chúa Cứu Thế, tại Scala, Dòng Chúa Cứu Thế được chính thức lập thành với năm sĩ tử. Anphonsô viết trong nhật ký: “Hôm nay, tôi thề hứa sẽ không bao giờ bỏ Dòng. Tôi làm một lời thề là không bao giờ nghi ngờ về ơn kêu gọi của tôi và luôn vâng lời Cha Falcoia”. Cha Facoia sau làm Giám mục Castellamare, một vị linh hướng rất khôn ngoan và thánh thiện. Sáu tháng sau, mọi người đều bỏ ngài. Anphongsô viết rằng: “Tôi tin chắc rằng Chúa không cần tôi và công cuộc của tôi. Nhưng tôi tin rằng Ngài truyền cho tôi phải tiếp tục và cho dầu chỉ còn lại một mình, tôi vẫn cố đạt đến mục đích”. Nhà Dòng chỉ còn lại hai người: Anphongsô và Thầy Vitô Curziô! Nhưng rồi dần dần nhiều linh mục khác lại đến xin gia nhập. Các tuần đại phúc lại tiếp tục như trước. Ngài viết, tháng 9 năm 1733: “Mục đích của Dòng chúng ta là mở các kỳ đại phúc. Nếu không làm việc ấy, hoặc làm không phải cách là nhà Dòng tiêu tan”. Để đáp ứng nhu cầu, ngài lập thêm nhiều tu viện mới: Liberi (1733), Pagani (1734), Ciorani (1735), Illiceto (1745), Caposele (1746). Công việc tông đồ dần dần được tổ chức quy củ. Những bài giảng đại phúc phải bao gồm ba đặc điểm: nội dung siêu nhiên, lời văn giản dị, và nhắm phần thực hành (Hitz Paul). Anphongsô, nhà luật sư có tài ăn nói ấy đã bắt mọi sĩ tử phải dùng lời giảng đơn sơ, dễ hiểu, trực tiếp và bình dân: Lời Giảng của Chúa trong Phúc Âm.

Anphongsô viết cũng như giảng, ngài viết những điều ngài giảng để soi sáng trí khôn, để đánh động tâm hồn. Ngài đã viết tất cả 111 cuốn sách được tái bản đến 21.000 lần. Trong số ấy, những cuốn được ưa chuộng nhất là những cuốn: Viếng Thánh Thể (tái bản 2.017 lần), Vinh Quang Đức Mẹ (tái bản hơn 1.000 lần), Cách Tỏ Lòng Mến Chúa (tái bản 535 lần), Dọn Mình Chết Lành (tái bản 319 lần), Nữ Tu Thánh Thiện (tái bản 254 lần), Đại Phương Thế Cầu Nguyện (tái bản 238 lần). Các sách ấy cũng được phiên dịch ra 36 thứ tiếng. Anphongsô viết trước tiên là cho quần chúng bình dân nhưng ngài cũng không quên các linh mục. Năm 1757, ngài ấn hành cuốn Giải Tội Thực Hành, dành cho các cha giải tội, và cuốn sách vĩ đại nhất là cuốn Thần Học Luân Lý. Sách này được phát hành thành 3 cuốn khổ lớn với 70.000 dẫn chứng xuất xứ từ 800 tác giả. Để hoàn tất bản thảo của công cuộc vĩ đại ấy vào lúc mà mọi cái đều phải chép tay, hai thầy Dòng đã chết vị bệnh lao, và chính Thánh nhân lúc về già, đầu bị rút xuống sát ngực không ngẩng lên được. Nội dung của tác phẩm vĩ đại này cũng như các sách vở khác đã khiến cho Giáo Hội tôn phong ngài làm Tiến sĩ Hội Thánh và Quan thầy các nhà Luân lý và các cha giải tội.

Dòng Chúa Cứu thế được Đức giáo Hoàng Bênêđitô XIV chính thức công nhận năm 1749 dưới danh xưng Congregatio Sanctissimi Redemptoris viết tắt là C.Ss.R. Gồm các linh mục và tu sĩ, những vị thừa sai của “những người thiếu thốn về phần linh hồn”. Năm 1762, Tòa Giám Mục Sainte Agathe des Goths trống ngôi. Có 62 vị là ứng cử viên vào chức vụ ấy. Đức Giáo Hoàng Clêmentê XIII đã chọn Anphongsô, ngoài danh sách làm Giám mục. Ngài hết sức từ chối nhưng cuối cùng cũng phải chấp nhận. việc đầu tiên khi tiếp nhận địa phận mới là tổ chức một tuần đại phúc đại quy mô và trong vòng 10 năm, ngài đã cải tổ lại từ hàng giáo sĩ đến giáo dân, từ những cơ cấu trung ương như các chủng viện đến các họ đạo, biến Sainte Agathe des Goths thành một địa phận gương mẫu. Tháng 7 năm 1775, Anphongsô đã được 80 tuổi, già yếu bệnh tật, người xin từ chức nhưng Đức Clêmentê không cho và ngài nói: “hình bóng của Anphongsô cũng có thể cai quản địa phận được”. Ít lâu sau, Đức Clêmentê XIII qua đời, Đức Piô VI lên kế vị, đã chấp thuận đơn từ chức. Anphongsô sung sướng trở về lại nhà Dòng ở pagani để “dọn mình chết”. Ngài ngồi vào đàn dương cầm, soạn thảo một bản kinh Libera để cho anh em hát trong ngày tang lễ của mình. Nhưng ngày ấy vẫn còn xa vì Thiên Chúa còn muốn Anphongsô đi một đoạn đường Thánh giá của mình.

Ngày 14 thánh 4 năm 1780, Anphongsô triệu tập đại hội công nghị của Dòng. Toà Thánh đã công nhận bản Hiến Pháp của Dòng, nhưng có những điều khoản không phù hợp với những đòi hỏi của chính quyền Hoàng gia Naples, nên không được phép thi hành trong nước này. Một số cố vấn của Anphongsô đã phỉnh gạt ngài bằng cách sửa đổi lại bản Hiến Pháp cho phù hợp với ước muốn của chính quyền, và tự động xin sự chấp thuận. Sự kiện ấy đã đưa đến việc Toà Thánh ra lệnh tách rời những tu viện nằm trong nước Naples ra khỏi Dòng và không công nhận. Anphongsô, vị sáng lập bị mất quyền điều khiển và tất nhiên cũng bị coi là không phải thành phần chính thức của Dòng nữa. Anphongsô rất đau khổ nhưng xin tuân phục vì “ý Đức Thánh Cha là ý Chúa”. Ngày 1 tháng 8 năm 1787, trong khi chuông nhà thờ Pagfani báo hiệu Kinh Truyền Tin thì Anphongsô qua đời, trong tay cầm mẫu ảnh Đức Mẹ, nguồn hy vọng. Theo truyền thống của Dòng, ngày một anh em qua đời là ngày nghỉ, ngày vui, ngày sinh   nhật của Anphongsô trên trời. Thánh Anphongsô hưởng thọ 91 tuổi, và ngài được tôn phong hiển thánh năm 1839 và Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1871.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa không ngừng ban cho Giáo hội những khuôn mẫu luôn luôn mới của đời sống Kitô hữu. Xin cho chúng con hằng noi gương thánh Giám mục Alphonsô  mà nhiệt thành cộng tác với Chúa trong công trình cứu độ, để mai sau được Chúa ân thưởng cùng với thánh nhân. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Thánh Ignatiô Loyola, Linh Mục, Lễ Nhớ

Don Inigo Lopez de Recalde sinh khoảng năm 1491 tại miền đồi núi Basque gần làng Azpeytia. Ngài là con út trong số 11 người con của một gia đình quí tộc. Được rửa tội với tên Inigo, một vị thánh Tây Ban Nha dòng thánh Bênêdictô, nhưng sau này Ngài thường dùng tên Ignatiô thành Antiokia. Hồi còn niên thiếu, người giúp việc cho một người bạn quí tộc của một gia đình là Giuan Velasquez. Sau khi Velasquez từ trần, Ngài lại phục vụ bá tước Najera, phó vương miền Navarre. Ngài được giáo dục một cách hời hợt. Thời đó, Ngài chỉ ham chơi, thích những chuyện hào hùng, nhất là những ngày lễ duyệt binh.

Trong cuộc chiến Pháp - Tây Ban Nha năm 1521, quân đội Pháp đã vượt núi Pyrênê và tới phong tỏa Pampeluna. Nhiều người đã tính chuyện đầu hàng, nhưng Ignatiô quyết cầm cự. Trong cơn bão tố tại pháo đài, Ignatiô bị trúng đạn pháo ở đùi, Ngài được chuyển về lâu đài ở Loyola. Nơi đây người ta khám phá ra rằng xương đùi đã bị xếp trật, phải mổ ra và sắp xếp lại. Ngài đã can đảm chịu đựng cơn đau. Thời gian dưỡng bệnh lâu dài, không có sách vở gì khác, Ignatiô dùng thời gian để đọc hạnh các thánh. Gương mẫu đời sống các thánh đã làm thay đổi Ignatiô. Ngài nói:
- Tôi có phải thực hiện điều mà thánh Phaxicô và Dominico đã làm chăng?

Năm 1522, sau khi bình phục, Ngài đi hành hương kính Đức bà Montserrat. Nơi đây Ngài đã thực hiện cuộc xưng tội trong ba ngày, trao tặng đồ hiệp sĩ cho một kẻ ăn xin, đặt gươm trên bàn thờ Đức Mẹ và tới thành Manresa kế cận để phục vụ trong một nhà thương. Có một lần Ngài gặp nguy hiểm khi đi vào một cuộc khổ hạnh quá độ. Ngài đã thoát hiểm nhờ sự vâng phục hoàn toàn đối với cha giải tội. Chính tại Manresa, Ngài được Thiên Chúa soi sáng, sự soi sáng hướng dẫn trọn những ngày còn lại của cuộc đời Ngài. Ngài viết cuốn linh thao, trong đó vạch ra những nguyên tắc mà một người công giáo phải theo để “điều khiển đời sống mình”, một đời sống nhằm ca tụng Chúa, tôn kính và phụng sự Chúa để được cứu rỗi. Ngài phác họa một giáo thuyết của mình về “sự chọn lựa” và đòi hỏi làm mọi sự để “vinh danh Chúa” (Ad Majorem dei gloriam).

Thánh nhân ở lại Manresa khoảng một năm và từ đó hành hương đi Palestina, trên đường đi có dừng lại ở Rôma. Sau khi đã kính viếng các nơi thánh ở Palestina, Ngài trở về Barcelona. Nơi đây, dầu đã 30 tuổi, Ngài vẫn đến trường, ngồi chung ghế với các em nhỏ, để sửa chữa lại kẽ hở trong việc học hành, cho tới khi Ngài có thể dự lớp tại đại học Alcala và Salamanca. Tại cả hai nơi này, Ngài đã bị truy tố ra tòa án tôn giáo và bị tống giam ít ngày. Nhưng cuối cùng giáo thuyết của Ngài đã thắng.

Năm 1528, Ngài bỏ Salamanca đi Paris và Sorbonne. Ngài ở Paris 7 năm, nơi đây Ngài tụ họp được sáu môn sinh đầu tiên. Vào ngày lễ Mông Triệu năm 1524, bảy anh em đã long trọng hiến thân phụng sự Thiên Chúa, khấn giữ đức nghèo khó và trong sạch nơi đền thờ thánh Denis tại Montmartre. Lúc đó, họ dự định đi Giêrusalem và hiến thân cho việc cứu rỗi các linh hồn trong các miền còn ngoại giáo.

Ignatiô trở về Tây Ban Nha. Năm1535, tu hội đã lên tới 10 người. Họ gặp nhau ở Vienitia, định cùng đáp tàu đi hành hương thánh địa. Nhưng tình hình miền Đông Địa Trung Hải không cho phép. Bù lại một số đi Rôma, để Ignatiô tại Venitia. Đức Giáo Hoàng Phaolô III ưu ái tiếp họ. Trở lại Ventia, họ mang theo phép của Đức Giáo Hoàng cho Ignatiô và 6 anh em được thụ phong Linh mục. Một năm sau, thấy rằng: không thể tới thánh địa được, Ignatiô kết luận rằng ý Chúa không muốn cuộc hành hương này. Thay vào đó, Ngài đặt tu hội dưới danh hiệu “Dòng Chúa Giêsu” dưới quyền sử dụng của toà thánh. Họ đi Rôma và Ignatiô dâng thánh lễ đầu tiên ở đó vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1538 tại đền thờ Đức Bà Cả, Ngài soạn thảo hiến pháp mới của dòng và đến trình diện Đức Giáo Hoàng Phaolô III. Đức Giáo hoàng đã phát biểu khi gặp họ:

- Đây là bàn tay Thiên Chúa.

Và trong sắc lệnh Regimini Militantis Ecclesioe, ban hành tháng 9 năm 1540 Ngài đã chính thức công nhận Hội Dòng. Hội dòng thêm vào đó 3 lời khấn: nghèo khó, vâng lời, trong sạch, lời khấn đặc biệt vâng phục Đức giáo hoàng.

Trong hiến pháp đầu tiên, hội dòng giới hạn con số có 60 tu sĩ. Ignatiô được đồng thanh bầu làm bề trên ngày 7 tháng 4 năm 1541. Luật hạn định tu sĩ vào số 60 được rút lại bởi sắc lệnh của Đức Giáo hoàng ngày 15 tháng 3 năm 1543.

Ignatiô khó rời bỏ Rôma cho đến cuối đời. Nhưng Hội Dòng đã lan rộng tới mọi miền trên thế giới, dưới quyền hướng dẫn của Ngài như một phép lạ, khi Ngài từ trần vào ngày 31 tháng 7 năm 1556, Hội dòng đã có 12 tỉnh dòng với 101 nhà và gần 1000 thành viên.

Thánh Ignatiô được tôn phong hiển thánh ngày 12 tháng 3 năm 1622.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã cho Giáo Hội một chiến sĩ can trường là thánh Ignatiô, để làm cho danh Chúa thêm vinh quang rạng rỡ.

Nhờ gương sáng và ơn phù trợ của thánh nhân, xin cho chúng con ở đời này biết hăng say chiến đấu, để đời sau được cùng người lãnh phần thưởng vinh quang Chúa hứa ban. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.